Tín dụng quí 1-2010 tăng trưởng 2,95% so với cuối năm 2009 - đó là con số do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) đưa ra trong báo cáo tại phiên họp Chính phủ tháng 3 vừa qua. Một ngày sau đó, trả lời trên website của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu công bố tăng trưởng tín dụng cùng thời gian trên là 3,34%. Vậy con số nào chính xác? Tăng trưởng tín dụng tháng 3 gấp 7,5 lần tháng 1? Hãy cùng xem lại những số liệu về tăng trưởng tín dụng trong quí 1-2010 do NHNN đưa ra. Tháng 1-2010 tín dụng tăng trưởng 0,26%; tháng 2-2010 1,14%; quí 1-2010 3,34%. Như vậy, tăng trưởng tín dụng của tháng 3-2010 là 1,94%, gấp 7,5 lần mức tăng của tháng 1. Con số này đã khiến nhiều ngân hàng bất ngờ vì theo phản ánh của họ, tổng dư nợ cho vay của họ trong tháng 3 không tăng bao nhiêu so với tháng 2. Còn thống kê của chi nhánh NHNN TPHCM chỉ ra rằng tăng trưởng tín dụng của thành phố ba tháng đầu năm ước chỉ 0,37% so với cuối năm ngoái. Mức tăng trưởng tín dụng hai tháng đầu năm của thành phố đã là 0,34%, như vậy tín dụng tháng 3-2010 ước tăng vẻn vẹn 0,03%. Tín dụng của TPHCM thường là chỉ báo về sự biến động dư nợ của cả hệ thống do lượng vốn cung ứng cho nền kinh tế ở đây cao. Liệu có một sự bất hợp lý nào đó không khi tăng trưởng tín dụng tháng 3-2010 của các ngân hàng TPHCM chỉ có 0,03% trong khi cả nước là 1,94%? Dư nợ ngoại tệ tăng vọt Bên cạnh khoảng cách giữa những con số, điều đáng lo ngại là cơ cấu tăng trưởng tín dụng đang có sự mất cân đối nghiêm trọng. Theo báo cáo của Bộ KHĐT, trên phạm vi cả nước dư nợ cho vay bằng tiền đồng ba tháng đầu năm tăng 0,57% so với cuối năm 2009, nhưng dư nợ bằng ngoại tệ lại tăng tới 14,07%. Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng ngoại tệ so với tăng trưởng tín dụng tiền đồng gấp gần 25 lần! Tại TPHCM, dư nợ cho vay tiền đồng ước giảm 1,81% so với tháng 12-2009 trong khi dư nợ cho vay ngoại tệ ước tăng 7,2%. Có hai lý do giải thích cho sự “nhảy vọt” của dư nợ cho vay ngoại tệ: Thứ nhất là trong quí 1-2010 NHNN đã giảm dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ và quy định trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ áp dụng cho các tổ chức kinh tế tối đa 1%/năm. Động thái này giúp các ngân hàng giảm chi phí huy động vốn ngoại tệ và có thêm nguồn ngoại tệ để cho vay. Thứ hai chênh lệch lãi suất cho vay giữa đô la Mỹ và tiền đồng đang quá lớn, vượt mức 10%/năm, khuyến khích doanh nghiệp vay ngoại tệ. Ngoài ra, năm ngoái tăng trưởng tín dụng ngoại tệ khá thấp, nên hiện nay khi doanh nghiệp chuyển qua vay đô la Mỹ, thì dư nợ vay bằng đồng tiền này tăng lên từ xuất phát điểm tăng trưởng thấp của năm trước. Việc dư nợ cho vay ngoại tệ tăng nhanh và mạnh như hiện tại sẽ dẫn tới tình trạng đô la hóa nền kinh tế ở mức độ sâu rộng hơn. Nó tạo sức ép lên tiền đồng và làm cho lộ trình biến đồng Việt Nam thành đồng tiền chuyển đổi trở nên ngày càng dài và càng xa! Con số tăng trưởng tín dụng bằng tiền đồng ước giảm tới 1,81% ở TPHCM nói lên điều gì? Điều rõ nhất là các ngân hàng, thay vì cung ứng tiền đồng cho nền kinh tế, đang thu hồi vốn về. Kế đó các tổ chức tín dụng không có tiền đồng để cho vay. Nguyên nhân là vốn huy động bằng tiền đồng ba tháng qua của thành phố ước giảm 0,54% so với đầu năm. Nhưng điều đáng chú ý hơn là các doanh nghiệp không thể vay tiền đồng, không chỉ vì ngân hàng không dư dả tiền đồng, mà chủ yếu vì lãi suất cho vay bằng đồng nội tệ quá cao, từ 14-18%/năm. Gỡ rào cản lãi suất Cuộc họp giữa NHNN và tổng giám đốc các ngân hàng thương mại ngày 2-4-2010 tại Hà Nội và tại TPHCM đã phát đi những tín hiệu gỡ bỏ rào cản lãi suất. Theo đó NHNN sẽ có quy định chính thức cho phép các ngân hàng được thực hiện lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay ngắn hạn và trần lãi suất huy động sẽ không còn. Nói cách khác, từ nay trở đi lãi suất cho vay và huy động của ngân hàng được xem như “thả nổi”. Vẫn còn đó những e ngại cơ chế mới sẽ đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, nhưng thực tế lại đang nghiêng về khả năng các ngân hàng sẽ giảm lãi suất đầu ra để cạnh tranh cho vay. Trước mắt, các ngân hàng quốc doanh đã cam kết sẽ kéo lãi suất cho vay về quanh mức 14%/năm. Mức này cao hơn trần lãi suất cho vay hiện hành là 12%/năm nhưng lại thấp hơn 2-4%/năm so với lãi suất thực (cộng thêm phí) mà người vay đang phải trả. Tổng giám đốc một ngân hàng quốc doanh nói rằng nhiều hợp đồng vay vốn với lãi suất 12%/năm ở ngân hàng ông đang nằm chờ vì với mức đó, ngân hàng không thể cho vay. Nay lãi suất lên 14%/năm, các hợp đồng vay sẽ được giải tỏa. Có thể lãi suất 14-15%/năm vẫn còn cao so với sức chịu đựng của doanh nghiệp, nhưng ít nhất nó phản ánh đúng cung cầu vốn trong thực tế và quan trọng là dòng chảy vốn lại lưu thông. Nhìn lại sự biến động tiền tệ trong quí 4-2009 và quí 1-2010 điều đáng quan tâm là dòng chảy tín dụng đã bị thắt quá đột ngột sau một thời gian “bung” ra mạnh. Ở TPHCM, từ mức tăng trưởng tín dụng tháng 9 và 10-2009 khoảng 3% xuống 0,03% tháng 3-2010. Với sự lên xuống ở mức quá cao của tăng trưởng tín dụng ấy, doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung phải quay như chong chóng thì mới xoay xở kịp kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Tín dụng ngân hàng là máu nuôi dưỡng nền kinh tế và nền kinh tế chỉ có thể phát triển một khi tín dụng tăng trưởng ổn định, hài hòa với mục tiêu tăng trưởng GDP. Ngăn chặn lạm phát là nhiệm vụ và trách nhiệm của cơ quan điều hành chính sách tiền tệ, và có nhiều cách để kiểm soát lạm phát mà không để doanh nghiệp bị tổn thương bởi tăng trưởng tín dụng giật cục, lúc quá cao, khi quá thấp. Đưa dòng chảy tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng trở lại mức bình thường, bình quân khoảng 2%/tháng, tương đương 24%/năm (so với tăng trưởng tín dụng cả nước năm 2010 được ấn định là 25%) đang là đòi hỏi bức thiết. Dư địa cho tăng trưởng tín dụng ba quí còn lại của năm đang quá rộng. Vấn đề là tăng trưởng tín dụng phải ở tốc độ hợp lý, nếu không tình trạng đang “thắt” chặt lại được “cởi” gấp có thể lặp lại. Chạy từ thái cực này sang thái cực khác sẽ không chỉ làm doanh nghiệp, ngân hàng “mệt mỏi”, mà còn có thể gây ra những biến động mà hậu quả là phải tốn kém công sức, tiền bạc để điều chỉnh.
Sắp tới, có khả năng các ngân hàng sẽ được cho vay ngắn hạn với lãi suất thỏa thuận và trần lãi suất huy động cũng được gỡ bỏ. Ảnh: Lê Toàn.
Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010
Tăng trưởng tín dụng: 2,95% hay 3,34%?
Tín dụng thấp “bó” tăng trưởng?
Quý 1/2010, hai thông số quan trọng của nền kinh tế diễn biến trái chiều: tăng trưởng tín dụng thấp trong khi tốc độ tăng GDP cao. Cho rằng không có sự bất hợp lý trong tương quan giữa hai yếu tố trên, song các chuyên gia kinh tế dự báo, chính sách tiền tệ thắt chặt chắc chắn sẽ tác động đến khả năng tăng trưởng những quý sau. Tín dụng thấp đáng ngại Theo báo cáo của ngân hàng Nhà nước (NHNN), quý 1/2010, tín dụng đối với nền kinh tế ước tăng 2,95% so với cuối năm 2009 (tín dụng bằng VND tăng 0,57%, tín dụng bằng ngoại tệ tăng 14,07%). Mức tăng này khá thấp so với cùng kỳ những năm trước, đặc biệt là với vốn VND. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng vốn tín dụng trong quý 1 của ba năm 2007, 2008, 2009 lần lượt là 6%, 10% và 2,67%. Riêng quý 1/2009, nền kinh tế rơi vào thời điểm khó khăn nhất nên mức tăng tín dụng ở mức thấp, song vốn đầu tư bằng VND cũng tăng tới 3,9%. “Thực tế vừa qua, các doanh nghiệp rất khó tiếp cận vốn VND, do khan hiếm và đắt đỏ. Diễn biến thị trường phù hợp với thông số của NHNN”, TS Lê Xuân Nghĩa, phó chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia nhận xét. Lý giải về việc tăng trưởng tín dụng thấp, song GDP quý 1 năm nay vẫn đạt mức khá cao, tới 5,83%, ông Nghĩa phân tích: thường thì hai yếu tố này tương quan theo tỷ lệ thuận nhưng có độ trễ. Nghĩa là, vốn đổ vào nền kinh tế phải sau một chu kỳ mới trở thành hàng hoá, dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2009 khá cao (gần 38%) nên tăng trưởng GDP quý 1 năm nay khá cao cũng dễ hiểu. Mặt khác, mốc so sánh của hai yếu tố này cũng có sự khác biệt: tăng trưởng tín dụng so sánh với kỳ gần nhất trong khi GDP so với cùng kỳ năm ngoái. TS Võ Trí Thành, phó viện trưởng viện Nghiên cứu kinh tế trung ương cũng đồng quan điểm khi nói rằng, bên cạnh hiệu ứng có độ trễ, tín dụng chỉ là “một trong nhiều yếu tố đầu vào tác động đến tăng trưởng”. Nói về mức chênh lệch khá lớn giữa tốc độ tăng tín dụng, cung tiền so với tăng trưởng GDP, trả lời báo chí, một số chuyên gia nói có thể nhận ra sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng của các doanh nghiệp qua việc nền kinh tế Việt Nam phải sử dụng bao nhiêu vốn để tạo ra một đồng tăng trưởng. Năm 2009 này, tăng trưởng GDP khoảng 5,2%, trong khi tăng trưởng tín dụng lên đến gần 38%. Như vậy, phải cần tới khoảng 7 đồng tín dụng để tạo ra một đồng tăng trưởng. Ngoài ra, chỉ số ICOR của Việt Nam là trên tám lần, cho thấy Việt Nam cần đầu tư khoảng 8 đồng để thu được một đồng tăng trưởng và rõ ràng là vốn đầu tư tín dụng chiếm phần lớn trong số đó. Đây là một tỷ lệ quá cao so với nhiều nước trong khu vực, như Indonesia là nước cao nhất có tỷ lệ này là 3,32, còn lại chỉ từ 1 đến 1,3. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của ta quá thấp, chi phí vốn quá lớn, gây áp lực lên nền kinh tế. Tăng trưởng cao: chưa vội mừng Ông Thành cũng chia sẻ một góc nhìn khác về mức tăng trưởng được nhìn nhận là khá cao của quý 1 năm nay. Theo chuyên gia kinh tế này, tốc độ tăng 5,83% là kết quả so sánh với mức 3,8% của GDP quý 1/2009 – thời điểm nền kinh tế Việt Nam rơi vào “đáy” khủng hoảng. “Chừng mực nào đó, có thể thấy kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu phục hồi. Nhưng nói tăng trưởng cao thì chưa hẳn”, ông Thành nhận xét. TS Lê Xuân Nghĩa cũng lưu ý thêm, mặc dù tín dụng không phải là yếu tố quyết định, song “tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp của quý 1 năm nay dự báo tăng trưởng kinh tế trong những quý tới khó cao”. Một số chuyên gia kinh tế khác cùng chung mối quan ngại, chính sách tiền tệ thắt chặt quá đáng (mục tiêu tăng phương tiện thanh toán 20%, tăng tín dụng 25% cả năm 2010) sẽ có thể sẽ “bó” tăng trưởng kinh tế năm nay. Trong khi đó, chuyên gia kinh tế trưởng ngân hàng Thế giới, ông Ivailo Izvorski lại cho rằng: “Mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5% năm 2010 có thể đạt được một cách dễ dàng. Nhiệm vụ thách thức hơn là phải giữ cho lạm phát ở dưới mức 7%”. Theo ông Ivailo Izvorski, những yếu tố đe doạ mục tiêu kiểm soát lạm phát như: giá nguyên liệu quốc tế tăng cao, việc phá giá VND và việc điều chỉnh giá năng lượng. Áp lực lạm phát có thể thấy rõ hơn trên thị trường tài sản, với chỉ số chứng khoán có xu thế đi lên trong nhiều tháng liên tục, và giá đất cũng tăng cao. Trên cơ sở nhận định này, ông Ivailo Izvorski khuyến nghị: “Những biến động này cho thấy rằng chính sách tài khoá và tiền tệ mở rộng của Chính phủ kể từ năm 2008 đã sắp đi tới giới hạn. Sắp đến lúc Việt Nam cần rút dần các biện pháp kích thích kinh tế”.
Thống đốc Nguyễn Văn Giàu: “Thỏa thuận không có nghĩa là nới lỏng!
| Ông Nguyễn Văn Giàu, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam. |
Hiện thực hóa mục tiêu giảm mặt bằng lãi suất theo Nghị quyết 18/CP của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước cho rằng đó là quá trình từng bước để lãi suất tự điều tiết theo cung cầu thị trường chứ không phải nới lỏng tiền tệ như một số ý kiến nêu ra…
Xung quanh vấn đề này, trong cuộc trao đổi với chúng tôi, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu nói:
- Trong việc triển khai Nghị quyết 18 của Chính phủ, sự ra đời của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN trong ngày 14/4, cho phép tổ chức tín dụng áp dụng cơ chế cho vay với lãi suất thỏa thuận, được coi là bước đi rất đúng thời điểm. Thông tư không chỉ tạo sự ổn định về mặt tâm lý mà còn đạt nhiều mục tiêu khác: ổn định thị trường tiền tệ; tăng vốn cho nhu cầu hợp lý của nền kinh tế; đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng; đồng thời, giảm mặt bằng lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp.
Ngân hàng Nhà nước đã thảo luận vấn đề này với các ngân hàng, họ đồng thuận rất cao. Hiện tại, hầu hết ngân hàng đều cho vay 14%/năm, nhất là ý thức việc hạ lãi suất cho vay nông nghiệp và xuất khẩu.
Ở đây, phải hiểu rõ là Ngân hàng Nhà nước đang từng bước trả lãi suất về cho thị trường chứ không phải nới lỏng tiền tệ như một vài ý kiến nêu gần đây. Trong giai đoạn hiện nay, Ngân hàng Nhà nước vẫn phải thực hiện chính sách điều hành chủ động, linh hoạt nhưng thận trọng.
Ngoài ra, song song với việc ban hành thông tư trên, Ngân hàng Nhà nước sẽ phối kết hợp với Bộ Công thương tìm các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, góp phần ổn định cán cân thanh toán. Cụ thể, ngân hàng sẽ tập trung ngoại tệ cho vay nhập khẩu với những mặt hàng thiết yếu, ngoại trừ những mặt hàng trong nước sản xuất được. Để thực hiện tốt vấn đề này, chúng tôi còn chờ sự phối hợp của Bộ Công Thương trong việc cung cấp danh mục hàng hóa thiết yếu, số lượng cần nhập khẩu… để cân đối nguồn ngoại tệ.
Thưa Thống đốc, khi khống chế trần lãi suất thì viện dẫn điều 476 Luật Dân sự, vậy khi “cho vay thỏa thuận” thì cơ sở pháp lý dẫn chiếu cho Thông tư 12 là gì?
Cơ sở pháp lý của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN cho phép tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng VND theo lãi suất thỏa thuận thì phải bám vào Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành và Nghị quyết 12 (ban hành tháng 3/2010 - PV), Nghị quyết 18 của Chính phủ. Cùng đó là văn bản cho phép cho vay thỏa thuận với tiêu dùng đầu năm 2009 của Ngân hàng Nhà nước.
Chứ còn nếu mà bắt bẻ từ ngữ thì không thể nào làm được.
Đại diện một số ngân hàng thương mại nói rằng, họ sẵn sàng giảm lãi suất hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng đề nghị Ngân hàng Nhà nước không nên quá lo lạm phát mà “dè xẻn” hỗ trợ thanh toán ngân hàng thương mại khi cần thiết. Thống đốc nói gì về vấn đề này?
Chính sách hỗ trợ lãi suất xét về toàn cục là có ý nghĩa lớn nhưng cũng có mặt trái, vì chúng thúc đẩy tăng trưởng tín dụng rất nhanh.
Tháng 1/2009, tăng trưởng tín dụng 0,65% so với cuối năm trước, tháng 2/2009 tăng 1,14% nhưng đến tháng 3/2009 khi thực hiện hỗ trợ lãi suất thì con số này là 4,22%, tháng 6/2009 tăng 4,44%, kéo theo cả năm tăng trưởng tín dụng 37,7% so với năm trước, cao hơn huy động vốn 10% (huy động vốn tăng 27%/năm).
Sự bùng nổ tín dụng do mặt trái chính sách, nhưng cũng một phần do quản trị của nhiều ngân hàng chưa tốt. Điều này không nên đổ lỗi hoàn toàn cho Ngân hàng Nhà nước, vì bất cứ ngân hàng nào cũng phải tự biết bảo vệ mình trước ham muốn tăng trưởng tín dụng.
Còn việc hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng thương mại thì Ngân hàng Nhà nước vẫn làm thường xuyên đấy chứ. Tuy nhiên chúng tôi cũng phải kiềm chế, vì nếu quá tay, tăng trưởng tín dụng có thể lên tới 43% - 44%! Ngân hàng Nhà nước bao giờ cũng phải hài hòa giữa hai mục tiêu tăng trưởng và lạm phát và công việc đó không khác gì người đi trên dây.
Còn chuyện “bơm - hút” trên nghiệp vụ thị trường mở thì thế này. Tháng 1/2010: Ngân hàng Nhà nước chào mua 264 nghìn tỷ đồng nhưng số xin mua chỉ 153 nghìn tỷ đồng và Ngân hàng Nhà nước đưa lớn hơn mức chào mua 111 nghìn tỷ đồng. Tháng 2, Ngân hàng Nhà nước chào mua 262 nghìn tỷ đồng nhưng sức mua chỉ 73 nghìn tỷ đồng. Tháng 3, Ngân hàng Nhà nước chào mua 218 nghìn tỷ đồng nhưng các ngân hàng thương mại chỉ trúng thầu 94 nghìn tỷ đồng. 12 ngày đầu tháng 4, Ngân hàng Nhà nước chào mua 97 nghìn tỷ đồng nhưng ngân hàng thương mại chỉ trúng thầu mua 47 nghìn tỷ đồng.
Nhưng các ngân hàng thương mại “sức yếu” thì lấy đâu tiền để mua giấy tờ có giá để giao dịch trên thị trường mở?
Đừng nói là họ không có tiền. Họ không làm đấy thôi!
Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia trên thị trường sơ cấp đối với trái phiếu và các giấy tờ có khác. Nhưng vì tâm lý ỷ lại “nếu mình có khó khăn, Nhà nước sẽ hỗ trợ” nên ít mua mà thôi.
Như thế là đáng trách. Rất nhiều lần tôi đã phê phán các ngân hàng thương mại và nghiêm khắc với cách suy nghĩ này.
Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước chưa công bố phân loại ngân hàng để người gửi tiền có cơ sở phân biệt mức độ rủi ro từng ngân hàng và đó là một thiệt thòi cho người dân khi biến cố xảy ra. Thống đốc nghĩ sao?
Đây là ý kiến chính đáng, tôi sẽ tiếp thu ý kiến này và Ngân hàng Nhà nước sẽ ban hành văn bản quy định trích lập tỷ lệ rủi ro phải theo thông lệ quốc tế. Hiện có một số ngân hàng thương mại đã trích được theo điều 7 của Quyết định 493, tiệm cận với thông lệ quốc tế.
Ngân hàng Nhà nước sẽ minh bạch trong đánh giá, xếp hạng từng ngân hàng theo tiêu chí chuẩn mực và sẽ công bố. Những ngân hàng năm ngoái xếp loại D nhưng năm nay được lên A thì cũng phải giải thích lý do. Đây là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi ngân hàng và đồng thời, đó cũng là cách đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền.
Cân đối tổng thể, tỷ trọng cho vay và huy động có “lệch pha” như trước đây, thưa Thống đốc?
Mặc dù trong bối cảnh kỳ vọng lạm phát đang cao trong quý 1/2010 nhưng huy động vốn toàn ngành đang tăng trưởng mạnh mẽ.
Đến ngày 9/4/2010, huy động vốn tăng trưởng 4,18% so với đầu năm và riêng 9 ngày đầu tháng 4/2010 đã tăng 0,68% so với cuối tháng 3/2010, trong đó, tiền gửi từ dân cư tăng 10,2% so với đầu năm, 9 ngày đầu tháng 4/2010 tăng 1,2% so với cuối tháng 3/2010.
Đặc biệt, đến nay, dư nợ cho vay tăng 3,84% so với đầu năm, thấp hơn 0,34% so với tổng huy động vốn và đó là điều đáng mừng vì lâu lắm rồi, tốc độ tăng trưởng huy động tiền gửi lớn hơn tốc độ tăng trưởng dư nợ.
Hiện tại, có tình trạng “mặc cả lãi suất” của khách hàng gửi tiền, nhất là các tập đoàn, tổng công ty và điều này đã gây áp lực lên lãi suất huy động của ngân hàng thương mại. Thống đốc có ý kiến gì về vấn đề này?
Nghị quyết 18/CP của Chính phủ đã nhấn mạnh rõ vai trò trách nhiệm của chủ tịch, tổng giám đốc tập đoàn kinh tế, tổng công ty trong việc bình ổn kinh tế. Có một điều tôi băn khoăn là nhiều doanh nghiệp Nhà nước là "con nợ" của ngân hàng, nhưng họ lại có nguồn tiền để gửi ngân hàng, đấy là vấn đề cần phải xem xét.
Chắc chắn ở đây không có câu chuyện vay lãi suất cao rồi gửi để lấy lãi suất thấp. Theo quy luật, lãi suất tiền vay bao giờ cũng cao hơn lãi suất tiền gửi. Nếu là năm ngoái (có hỗ trợ lãi suất 4% - PV) thì điều đó còn có cơ sở nhưng năm nay là có yếu tố không bình thường ở đây.
Có những tập đoàn giàu nhất quốc gia mà còn nợ tới 24 ngân hàng với mấy chục ngàn tỷ đồng. Có tập đoàn nào mà không nợ ngân hàng đâu? Thế rồi, tại sao trong cùng một tập đoàn mà chỗ thì đi vay, chỗ thì cho vay? Vậy thì trách nhiệm điều hòa dòng vốn, hỗ trợ thành viên trong cùng một tổng công ty, tập đoàn của người đứng đầu để ở đâu?
Còn chuyện mặc cả lãi suất với ngân hàng, có lần tôi đã nói với lãnh đạo các doanh nghiệp lớn là không nên như thế. Mà nếu có tiền thì hãy tập trung vốn cho sản xuất và còn dư dả thì đem trả nợ ngân hàng.
Giám đốc ADB Việt Nam: “Thắt chặt tiền tệ là cần thiết”
(Theo Anh Quân // Vneconomy)
| Ông Ayumi Konishi - Ảnh: Anh Quân. |
“Chúng tôi chúc mừng Việt Nam vì đã thành công trong việc giảm nhẹ tác động xấu của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đồng thời các biện pháp kích thích đã được đưa ra mà không gây nhiều tốn kém”, Giám đốc Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tại Việt Nam, ông Ayumi Konishi, nói với VnEconomy.
Tuy nhiên, ông không quên nhấn mạnh đến mức thâm hụt tài chính lớn và tăng trưởng tín dụng cao, dẫn đến áp lực lạm phát và mất giá đồng nội tệ.
Dự trữ ngoại hối không quá mức báo động
Nếu nhìn vào tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam trong quý 1/2010, lạm phát tăng 8,51% (bình quân); nhập siêu đạt 3,5 tỷ USD, trong khi dự trữ ngoại hối giảm..., Việt Nam có ở trong tình thế khó khăn hơn so với các nước khác trong khu vực?
Nhờ nhanh chóng hoạch định và triển khai các biện pháp kích thích kinh tế, kinh tế Việt Nam bắt đầu phục hồi từ quý 2 năm ngoái, sớm hơn so với nhiều quốc gia.
Vào ngày 25/11, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt và Chính phủ tái khẳng định lại chính sách ưu tiên hàng đầu của mình là đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Chúng tôi cho rằng ở thời điểm hiện tại, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức không giống các quốc gia khác, vốn cũng đang tìm kiếm thời điểm thích hợp để đưa ra “chiến lược tồn tại” từ những biện pháp kích thích, và chúng tôi không cho rằng tình hình của Việt Nam là khó khăn hơn.
Một dấu hiệu tích cực là sự gia tăng vốn giải ngân FDI. Chúng tôi cũng nghĩ rằng mức dự trữ ngoại hối vào khoảng 12 tuần nhập khẩu hiện vẫn trong tầm kiểm soát, và không có gì là quá mức "báo động”, tất nhiên vẫn cần phải theo dõi chặt tình hình.
Giai đoạn phát triển và cơ cấu kinh tế hiện tại của Việt Nam kích thích dòng chảy ODA và FDI, dẫn đến việc nhập nhẩu thiết bị lớn hơn. Hơn nữa, do giá trị gia tăng nội địa của hàng xuất khẩu Việt Nam rất nhỏ, việc thúc đẩy xuất khẩu nhiều hơn đòi hỏi nhập khẩu thêm nguyên, nhiên liệu đầu vào và thiết bị.
Nhìn vào chênh lệch giữa tỷ giá thị trường chợ đen và tỷ giá chính thức từ hơn 10% vào năm 2009 chỉ còn 3,5% vào tháng 3 năm nay, chúng ta có thể nhận thấy áp lực lên VND đã được giảm nhẹ.
Theo ông, vì sao nhập khẩu của Việt Nam tăng mạnh tới trên 37% nhưng xuất khẩu giảm 1,6% trong quý 1? Sự mất cân đối này dẫn đến những hệ lụy gì?
Để hiểu tình hình tốt hơn, chúng ta cần phải xem xét chi tiết từng mặt hàng nhập khẩu cũng như xuất khẩu. Như đã nói ở trên, giải ngân FDI và ODA dẫn đến việc nhập khẩu lớn hơn và cũng có yếu tố mùa vụ liên quan đến xuất khẩu.
Việc gia tăng đột biến kim ngạch nhập khẩu vàng và các mặt hàng dự trữ khác là điều cần quan tâm. Nhưng nếu nó là do gia tăng giải ngân ODA và FDI thì tình hình không đáng báo động.
Theo chúng tôi được biết, thặng dư tài khoản vốn của Việt Nam lớn hơn thâm hụt tài khoản vãng lai, và khi nào trạng thái này còn tồn tại, chúng tôi nghĩ rằng không cần thiết phải quá lo ngại về vấn đề thâm hụt thương mại.
Vì sao giải ngân FDI tháng 3 lại đạt 1,5 tỷ USD, con số rất cao kể cả đối với giai đoạn kinh tế phát triển mạnh như 2008? Nếu nhìn vào cơ cấu thu hút vốn FDI, các dự án sản xuất thay thế hàng nhập khẩu dường như ngày càng ít đi. Theo ông, chính sách thu hút FDI của Việt Nam có vấn đề gì?
Theo tôi, FDI tăng, đặc biệt là giải ngân FDI phản ánh sự đánh giá của nhà đầu tư đối với cơ hội kinh doanh tại Việt Nam bao gồm cả cả hai triển vọng: như một thị trường và một địa bàn sản xuất tốt.
Chúng tôi không cho rằng việc dòng vốn FDI đầu tư mạnh vào bất động sản là tín hiệu xấu. Bởi vì trong một chừng mực nào đó, Việt Nam vẫn thiếu hụt văn phòng cho thuê, và FDI vào bất động sản cũng phản ánh triển vọng thị trường du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn có những lo ngại về tình trạng bong bóng tài sản trong thời gian gần đây.
Việt Nam cần phải tiếp tục cải thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh, cũng như cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực có kỹ năng. Đó là tất cả những vấn đề dài hạn, trong khi sự ổn định kinh tế vĩ mô được coi là chìa khóa cho Việt Nam để tiếp tục thu hút/nâng cao dòng vốn FDI.
Thắt chặt tiền tệ là cần thiết
Chính sách lãi suất và tỷ giá thời gian gần đây có sự thay đổi khi cho áp dụng lãi suất thỏa thuận. Theo ông, lạm phát sẽ chịu tác động như thế nào từ chính sách này?
Lạm phát khiến người dân kỳ vọng sự suy yếu của VND, cùng lúc đó, sự mất giá của đồng nội tệ càng làm tăng giá hàng hoá nhập khẩu bao gồm cả xăng dầu, và kết quả là lạm phát. Đó là lý do tại sao lòng tin của người dân vào sự ổn định kinh tế vĩ mô là điều cần thiết để giảm áp lực lạm phát.
Thắt chặt tiền tệ là cần thiết để kiềm chế lạm phát và khôi phục lòng tin thị trường vào sự ổn định của kinh tế vĩ mô Việt Nam. Loại bỏ trần lãi suất đã thắt chặt hơn chính sách tiền tệ, và việc điều chỉnh tỷ giá VND cũng là cần thiết để đảm bảo thị trường ngoại hối hoạt động suôn sẻ.
Liệu Việt Nam có đảm bảo kinh tế vĩ mô ổn định với mức lạm phát có thể lên đến 10% trong năm nay? Ông có lý giải cụ thể của riêng mình?
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ đạt 6,5% cho năm 2010 và 6,8% cho năm 2011, lạm phát trung bình năm tương ứng ở mức 10% và 8%. Chúng tôi đã giả định rằng Chính phủ sẽ tiếp tục ưu tiên cao nhất cho sự ổn định, thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô, và chúng ta cũng cần lưu ý về độ trễ giữa thời điểm áp dụng chính sách và tác động của nó đến nền kinh tế.
Khi mà Chính phủ có thể theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao hơn chắc chắn sẽ đi kèm với áp lực lạm phát, và chúng tôi cho rằng những con số này trong năm 2010 và 2011 có thể là hệ quả của chính sách vĩ mô.
Cán cân thanh toán đã được bù đắp
Từ năm 2009 đến nay, ADB, WB... đã có một số khoản tín dụng chuyển trực tiếp vào ngân sách của Việt Nam. Xin ông giải thích rõ việc này?
Trong năm 2009, các biện pháp kích thích kinh tế dẫn đến thâm hụt tài chính lớn và những thâm hụt như vậy cần thiết được hỗ trợ tài chính.
Ngay cả trước khi năm 2009, cùng với Chương trình Tín dụng Hỗ trợ giảm nghèo (PRSC), Việt Nam đã được nhận hỗ trợ trực tiếp vào ngân sách từ nguồn vốn ODA bởi một số đối tác phát triển.
ADB đã tăng đồng tài trợ cho PRSC từ 25 triệu USD lên 100 triệu USD và cũng cung cấp một khoản trị giá 500 triệu USD khác thuộc Quỹ Hỗ trợ Chống suy thoái theo chu kỳ.
Chúng tôi được biết Ngân hàng Thế giới cũng tăng hỗ trợ cho PRSC và áp dụng chính sách giải ngân nhanh dựa trên một khoản vay trị giá 500 triệu USD. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản cũng cung cấp một gói hỗ trợ ngân sách đặc biệt trị giá khoảng 500 triệu USD.
Việc phát hành trái phiếu quốc tế vừa rồi với mức lãi suất cao hơn một số nước cùng khu vực được lý giải là do cán cân thanh toán của Việt Nam mất cân đối hơn. Quan điểm của ông?
Thâm hụt Ngân sách nói chung và các biện pháp kích thích kinh tế nói riêng đã được tài trợ, và chúng tôi tin phát hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ vào đầu năm nay là một hành động phù hợp.
Bởi vì, việc định giá 6,95% được coi là thỏa đáng đối với tình hình thị trường lúc đó, và trong giai đoạn Chính phủ đã cạn kiệt các nguồn lực, không có sẵn nguồn vốn rẻ mà mang lại nhiều thuận lợi hơn.
Và việc phát hành trái phiếu quốc tế đã cải thiện được cán cân thanh toán của đất nước.
Có khuyến cáo rằng Việt Nam nên tăng thu ngân sách để giảm bội chi chứ không nên giảm chi. Theo ông, Việt Nam cần cân nhắc điều gì và chọn giải pháp nào để cân bằng thu chi ngân sách trong giai đoạn tới?
Chúng tôi tin rằng Việt Nam cần làm cả hai cách. Điều này sẽ rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả của chi tiêu công. Vì ở mức độ nhất định, một vài khoản chi tiêu công không được cho là đã được sử dụng có hiệu suất và hiệu quả nhất, Chính phủ không nên ngần ngại chi tiêu công hợp lý.
Đồng thời, rất cần thiết phải nỗ lực tăng khả năng thu thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân, không chỉ vì cân nhắc đến hiệu quả thu thuế mà còn bởi tính công bằng của nó.
Mặt bằng lãi suất: Sức ép tăng trong ngắn hạn
Có hai luồng ý kiến ngược nhau về lãi suất. Áp lực tăng lãi suất ngày một tăng, nhưng chỉ dấu hạ cũng đã có. Doanh nghiệp ứng phó thế nào? Mặt bằng lãi suất mới Ông Lê Khắc Duẩn - Giám đốc công ty Tư vấn và Đầu tư tài chính S&D cho rằng, Chính phủ đang rất khó khăn trong việc giải quyết bài toán giữa tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát. Và với giải pháp giữ nguyên lãi suất cơ bản trong tháng 4 ở mức 8%/năm, có thể thấy các cơ quan quản lý đang muốn trì hoãn để tìm ra giải pháp tốt hơn. “Dù sao chúng tôi cũng không tin rằng việc trì hoãn này có thể kéo dài quá tháng 4 và các chính sách mới có thể sẽ bắt đầu được đưa ra ở nửa cuối tháng 4 hoặc đầu tháng 5” - ông Duẩn dự đoán. Và đương nhiên, khi lãi suất cơ bản tăng thì thị trường sẽ xác lập một mặt bằng lãi suất mới. Cơ sở để ông Duẩn đưa ra nhận định trên chính là những diễn biến của nền kinh tế. Vấn đề thứ nhất, tốc độ tăng CPI quý I đã tới 4,12%, khiến mối lo ngại lạm phát cao là có cơ sở. Đáng chú ý, gốc rễ của đợt gia tăng lạm phát này lại đến từ việc gia tăng chi phí sản xuất thông qua giá xăng dầu, điện... Vấn đề thứ hai, tình trạng nhập siêu quý I/2010 ước đạt 3,51 tỷ USD, chiếm tới 25% kim ngạch xuất khẩu. Điều này buộc Bộ Công Thương phải họp khẩn để tìm giải pháp. Tuy nhiên, có vẻ chưa có biện pháp khả thi vì nhóm hàng cần nhập khẩu gồm nguyên liệu, máy móc thiết bị chiếm tới 82,6% tổng kim ngạch nhập khẩu. Có vẻ như việc đưa ra giải pháp ổn định tỷ giá VND/USD đã không đạt được kết quả như kỳ vọng ban đầu mà vẫn làm các doanh nghiệp xuất khẩu gặp nhiều khó khăn. Ở góc độ kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, ông Trần Hoài Nam - Phó tổng giám đốc ngân hàng Quốc tế (VIB) cũng phải thừa nhận, mặt bằng lãi suất trong thời gian tới sẽ tăng. Tuy nhiên, ông Nam lại dự đoán, mức tăng này không quá lớn và thời điểm tăng sẽ vào cuối năm 2010. Ông Nam cho rằng, xét trên hai yếu tố là tăng trưởng GDP và tăng trưởng tín dụng 3 tháng qua, hai con số này không quá mâu thuẫn nhau. Dự báo mức tăng GDP cả năm và tăng trưởng tín dụng đặt ra cho năm 2010 là khá hài hòa. Đồng thời, các doanh nghiệp hiện cũng rất cẩn trọng và cân nhắc trong việc sử dụng đồng vốn do chi phí vốn khá cao. Điều này giúp mặt bằng lãi suất sẽ không có hiện tượng tăng đột biến, ông Nam khẳng định. “Trông giỏ bỏ thóc” Lãi suất cao sẽ làm tăng mạnh chi phí đầu vào đối với các doanh nghiệp là điều đương nhiên. Ông Nguyễn Văn Cường - chủ một cơ sở sản xuất các mặt hàng da than thở: “Người tiêu dùng vẫn chưa thoát khỏi tâm lý lo ngại về khủng hoảng kinh tế nên đầu ra của doanh nghiệp vẫn còn khó khăn. Trong khi đó, đầu vào cứ liên tục bị cộng thêm chi phí thì doanh nghiệp chỉ còn cách cố gắng hoạt động cầm chừng hoặc tạm ngừng sản xuất”. Chia sẻ với khó khăn của doanh nghiệp, tại hội thảo “Nhìn lại kinh tế năm 2009 và dự báo kinh tế năm 2010”, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, doanh nghiệp sẽ buộc phải huy động vốn theo cách khác để tránh gặp phải những biến động về tỷ giá cũng như những biến động về chính sách. “Tôi biết điều này là vô cùng khó khăn với các doanh nghiệp bởi rất khó để chúng ta có thể đoán định được chính sách. Tôi cho rằng cách tốt nhất để giúp các doanh nghiệp là NHNN nên có một lộ trình, định hướng cụ thể về những hành động của mình để ít nhất doanh nghiệp cũng có thể dự báo được mức biến động có thể xảy ra. Còn trong điều kiện như hiện nay, các doanh nghiệp cần thận trọng trong việc huy động vốn và đầu tư. Cách tốt nhất là xem giỏ mà bỏ thóc” - TS Doanh bình luận. Còn đối với những doanh nghiệp có kế hoạch, dự án phát triển, đầu tư khả thi cần nguồn vốn, ông Trần Hoài Nam - Phó tổng giám đốc VIB đưa ra lời khuyên, doanh nghiệp nên tiếp cận qua các kênh: Tận dụng những chính sách hỗ trợ của Chính phủ cũng như các nguồn vốn hỗ trợ phát triển từ các ngân hàng nước ngoài như chính sách hỗ trợ lãi suất 2% cho khoản vay trung và dài hạn; Dự án SMEFP (dự án tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa - một kế hoạch cho vay lại dựa theo thỏa thuận vay giữa Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) giai đoạn 3; Dự án RDFII… Mỗi nhận định và dự báo đều có lý lẽ riêng của mình, nhưng quyết định điều hành chính sách tiền tệ quốc gia thì lại thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước. Trong bối cảnh nền kinh tế đang trên đà hồi phục và sẽ có không ít doanh nghiệp chớp cơ hội này để “bật lên”, thì một chính sách ổn định tương đối, có thể dự báo được và cân bằng được lợi ích các bên liên quan là hết sức cần thiết. Điều này sẽ không chỉ giúp nền kinh tế phát triển bền vững mà còn giúp các doanh nghiệp rũ bỏ tâm lý “lình xình” chờ chính sách. Ông Nguyễn Tuấn, Trưởng phòng Phân tích và Tư vấn đầu tư Cty Chứng khoán Quốc gia Trong năm 2008, với việc thắt chặt tiền tệ mạnh mẽ của Chính phủ để chặn lạm phát, chúng ta đã thấy lãi suất cơ bản có xu hướng bắt đầu tăng vào tháng 5/2008, đạt đỉnh vào tháng 8/2008 và trở lại ổn định, giữ ở mức thấp vào tháng 12/2008. Chu kỳ tăng giảm lãi suất đó là 8 tháng.
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại phiên họp Chính phủ diễn ra từ ngày 30/3 - 1/4/2010, tổng dư nợ tín dụng của toàn nền kinh tế tính đến 31/3/2010 ước chỉ tăng 2,95% so với tháng 12/2009.
Ý kiến người trong cuộc
Lý do khiến USD mất giá 10% trong vòng 12 tháng qua?
Đồng USD mất giá 10% trong vòng 12 tháng qua
Dân giữ USD tương đương dự trữ ngoại tệ?
Trước tết, Nguyễn Văn Hưng, một người buôn ôtô ở Hà Nội bỏ ra lượng tiền mặt tròn 5 tỉ VND để mua USD. Một phần trong số ngoại tệ đó, Hưng kể, được chuyển cho con gái đầu của anh đang học tại trường đại học danh tiếng hàng đầu thế giới Oxford ở Anh, số còn lại anh cho vào két để ở nhà. “Tôi dự kiến cháu học năm năm sẽ mất khoảng 5 tỉ đồng. Đang sẵn tiền nên tôi mua hết USD. Chưa chuyển hết cho cháu thì giữ USD chắc cũng không bị mất giá như tiền đồng”, Hưng, người đang sở hữu gần chục căn nhà ở Hà Nội sau những phi vụ trúng quả lớn ở Đức và Tiệp Khắc cách đây 20 năm, nói. Thật khó biết được số lượng những bậc phụ huynh làm giống như anh Hưng – tức mua ngoại tệ trong nước để nuôi con ăn học ở nước ngoài. Tuy nhiên, con số này có lẽ không nhỏ khi thống kê chỉ từ bốn đại sứ quán Mỹ, Anh, Úc, và Singapore cho biết đã có hàng chục ngàn sinh viên người Việt Nam đang theo học ở các trường học từ cấp tiểu học đến đại học ở các nước này. Vì thế, lượng USD tiền mặt gửi ra nước ngoài chỉ cho riêng hoạt động này có lẽ là không nhỏ. Nhưng đây chỉ là một phần trong bức tranh người Việt Nam giữ tài sản bằng USD, thay vì tiền đồng. Người ta mua USD để cho con đi học nước ngoài, thanh toán ôtô nhập khẩu, trả tiền cho chiếc iPod, hay đơn thuần là cất trong tủ… Những hoạt động này làm nền kinh tế Việt Nam bị đôla hoá rất cao, ít nhất so với các quốc gia khác trong khu vực. Kinh tế gia trưởng của ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Martin Rama giải thích về hiện tượng này: “Người dân và doanh nghiệp không yên tâm về tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD. Có rất nhiều người đang găm giữ USD vì họ cho rằng găm giữ USD là biện pháp bảo vệ tài sản cho họ”. Người Việt thực sự đang giữ bao nhiêu USD? Câu hỏi này gây tò mò cho chuyên gia kinh tế cao cấp Lê Đăng Doanh. Ông Doanh kể lại, ông đã cùng ngồi phỏng đoán với phó chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia Lê Xuân Nghĩa về con số này dựa trên nhiều yếu tố như dự trữ ngoại hối, vay nợ của Chính phủ, kiều hối, FDI, xuất khẩu, lượng ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng… đã công bố cuối năm ngoái. “Chúng tôi giật mình khi thấy sai số là 9,7 tỉ USD. Con số này không thấy xuất hiện trong tài khoản ngân hàng. Tức là nó nằm trong túi người dân. Điều này cho thấy chúng ta không thiếu ngoại tệ, nếu huy động được số tiền này”, ông Doanh nói. Đánh giá của ông Doanh gần giống với một báo cáo mới công bố của ngân hàng Thế giới. Báo cáo này lưu ý rằng, có nhiều hạng mục bị sai số một cách không bình thường trong cán cân thanh toán (lên tới 10% GDP). “Người dân Việt Nam đang nắm giữ hàng tỉ USD”, ông Rama giải thích cho hiện tượng này. Một câu hỏi khác: vậy còn bao nhiêu USD nằm trong tài khoản ngân hàng thương mại? Viện phó viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Võ Trí Thành giải thích thêm, dự trữ ngoại hối hiện có, cộng với khoảng 20 tỉ USD đang gửi trong hệ thống ngân hàng thương mại cho thấy “Việt Nam có hơn 30 tỉ USD”. Ông nói: “Con số này và số USD trong dân cho thấy, nền kinh tế không thiếu USD”. Nhưng mặt khác, rõ ràng là đang có tình trạng thiếu ngoại tệ cho các giao dịch cần ngoại tệ. Ông Rama nói tiếp: “Hiện tượng mua bán USD vượt ra ngoài biên độ chính thức trên thị trường tự do cho thấy một số dấu hiệu mất lòng tin vào đồng nội tệ”. Anh Hưng và nhiều người khác đang nắm giữ USD biết rất rõ điều này. Nhưng điều họ không biết là tỷ giá VND/USD luôn có chiều hướng tăng chính vì sự găm giữ đó, và đây là một yếu tố mang tính tàn phá nền kinh tế. Ông Thành ước tính, tỷ giá có thể dao động ở biên độ rất lớn 18.000 – 20.000 VND/USD, mà biên độ nhỏ nhất chỉ có thể có khi người dân từ bỏ găm giữ USD và chuyển qua VND. Gợi ý này, tuy vậy, là bất khả thi. Ông Rama nói: “Tôi cho rằng, để dòng tiền vào thị trường không có kiểm soát là không thể được. Nếu để mọi người mua USD thì ngân hàng Nhà nước sẽ mất thêm nhiều dự trữ… Đây là áp lực với Chính phủ và Chính phủ hiểu được áp lực đó”.
Để dân tin dùng tiền Việt Nam
Ngày 13.4, giá USD trên thị trường tự do Hà Nội có nơi ở mức 19.020 – 19.060 đồng/USD, gần bằng giá niêm yết của ngân hàng 18.990 – 19.060. Ngay khi tỷ giá thị trường tự do gần tiệm cận với giá niêm yết tại ngân hàng, cụ thể là ngày 10.4, giới đầu tư đã tăng mua khiến cho tỷ giá “nóng” trở lại và tăng nhẹ. Động thái trên của giới đầu tư được các chuyên gia tài chính lý giải là do họ kỳ vọng tỷ giá sẽ tăng lên trong thời gian tới do áp lực của lạm phát và xuất khẩu vẫn giảm mạnh. Tỷ giá sẽ ổn định ít nhất một, hai tháng Trong khi tỷ giá liên ngân hàng vẫn được ngân hàng Nhà nước (NHNN) cố định ở mức 18.544 đồng/USD thì tỷ giá mua vào/bán ra niêm yết tại các ngân hàng lại có dấu hiệu hạ nhiệt, thấp hơn giá trần (19.100 đồng/USD). Tỷ giá ngoài thị trường tự do cũng hạ nhiệt nhanh chóng và lao dốc rất mạnh, có thời điểm giá mua vào rơi xuống chỉ còn 19.100 đồng/USD, tiệm cận với giá niêm yết tại ngân hàng. Đã lâu lắm rồi người dân và giới đầu cơ ngoại tệ mới được chứng kiến sự chênh lệch với biên độ nhỏ như vậy giữa giá USD trong hệ thống ngân hàng với thị trường chợ đen. Và giá USD đã giảm xuống mức thấp nhất từ đầu năm 2010. Giải thích hiện tượng này, ông Nguyễn Thanh Hà, giám đốc phân tích kinh tế, công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) nhận định, lý do chính dẫn đến việc giá USD trong hệ thống ngân hàng hạ nhiệt nhanh chóng trong tuần qua xuất phát từ thông tin nguồn vốn FDI giải ngân trong tháng này khá lớn (ước tính lên tới 1 tỉ USD) và nguồn tin nội bộ trong hệ thống ngân hàng về định hướng của NHNN sẽ không phá giá VND từ nay cho tới cuối năm. “Trên thực tế, trạng thái ngoại hối của các ngân hàng trong ba tháng qua luôn ở trạng thái dương (mua nhiều hơn bán). Lượng USD tồn đọng tại các ngân hàng từ đợt “găm hàng” kỳ vọng tỷ giá lên lần trước cũng còn khá nhiều. Hơn nữa, cầu USD hiện tại cũng không thật sự cao bởi lẽ các doanh nghiệp nhập khẩu trong ba tháng đầu năm nay thay vì mua USD đã quay sang vay USD để dành VND cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn cung liên tục được cải thiện trong khi cầu không thật sự mạnh mẽ đã khiến giá USD đang chịu sức ép giảm giá khá lớn”, ông Hà phân tích. Tuy nhiên, thị trường ngoại hối vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn. “Nếu xuất khẩu không tăng thì sẽ ảnh hưởng tới tỷ giá ngoại tệ và khi ấy chính sách tỷ giá cần phải linh hoạt, điều chỉnh theo cung cầu thị trường sao cho ổn định. Tuy nhiên, đứng trên góc độ kinh tế vĩ mô, tỷ giá nhiều khả năng sẽ ổn định ở mức thấp như hiện nay ít nhất là trong một đến hai tháng nữa, trước khi chênh lệch lãi suất cho vay giữa VND và USD có sự thay đổi cũng như tình hình nhập siêu cho những dấu hiệu căng thẳng hơn và xuất khẩu chưa có dấu hiệu phục hồi”, tiến sĩ Cao Sỹ Kiêm, phó chủ tịch hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia, nhận định. Để dân tin tiền đồng Cao Sỹ Kiêm, Có hiện tượng khi thấy giá USD ngoài thị trường tự do giảm mạnh giới đầu tư và người dân đã mua vào. Đặc biệt, hiện khá nhiều doanh nghiệp vẫn niêm yết giá bằng ngoại tệ trên website. Dạo qua thị trường bất động sản, máy tính, máy ảnh trên các địa chỉ website của một số doanh nghiệp, sau khi bị cấm niêm yết giá ngoại tệ ở gian hàng, thì họ niêm yết trên trang web. Thực tế này là gì? Theo tiến sĩ Kiêm, hiện tượng này là do người dân và doanh nghiệp chưa tin vào tiền đồng và chính sách tỷ giá của NHNN. Còn tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, phó chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính Quốc gia, để chống đôla hoá nền kinh tế, trước hết Việt Nam cần phải ổn định lạm phát trong thời gian dài để xây dựng lại lòng tin của người dân với đồng nội tệ và hệ thống ngân hàng tuyên bố không nhận tiền gửi bằng ngoại tệ nữa. Có thể Chính phủ tăng dự trữ bắt buộc của ngoại tệ lên thật cao. Như vậy ngân hàng thương mại sẽ dừng huy động USD hoặc giảm lãi suất huy động ngoại tệ tới mức thấp nhất có thể để không còn hấp dẫn với người dân nữa. Khi ấy, nếu ai có ngoại tệ thì sẽ bán đứt cho ngân hàng để tiêu bằng tiền nội tệ và tình trạng đôla hoá sẽ giảm. Theo tiến sĩ Võ Trí Thành, phó viện trưởng viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, ngay từ năm 1994, NHNN đã ban hành quyết định cấm giao dịch, mua bán ngoại tệ trên thị trường Việt Nam, tuy nhiên, bài học cho thấy biện pháp hành chính không phát huy hiệu quả. Mấu chốt là phải ổn định kinh tế vĩ mô. Nhớ lại hồi đầu năm 2007, khi ấy ít có ai muốn nắm giữ ngoại tệ. “Hiện nay người dân và giới đầu tư chưa tin vào đồng nội tệ và chính sách của Nhà nước. Chúng ta có nhiều chính sách mâu thuẫn nhau, ví dụ như muốn hạn chế ngoại tệ nhưng lại cho phép người dân gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ, thanh toán bằng ngoại tệ…”, tiến sĩ Thành nói. Đồng tình với quan điểm trên, tiến sĩ Kiêm cho rằng, thật khó để cấm nhưng có thể đưa ra chính sách, cơ chế. Tỷ giá phải hợp lý, linh hoạt sao cho đối tượng găm giữ ngoại tệ cảm thấy giữ cũng không có lợi.
phó chủ tịch hội đồng Tư vấn
chính sách tiền tệ Quốc gia.
Chính sách tiền tệ: Sự "đánh đổi" có thực sự đáng giá?
Dư luận đặt câu hỏi phải chăng chính sách tiền tệ được "thả lỏng" để đạt mục tiêu tăng trưởng? Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu khẳng định với báo giới: "Ngân hàng Nhà nước đang từng bước trả lãi suất về cho thị trường chứ không phải nới lỏng tiền tệ".
Sự đánh đổi là quy luật phổ biếnLý thuyết "đánh đổi" giữa lạm phát và tăng trưởng của nền kinh tế trong ngắn hạn đã làm đau đầu không ít những nhà hoạch định chính sách trong việc xác định mục tiêu ưu tiên của chiến lược phát triển kinh tế và đi tới một sự cân đối ổn định trong dài hạn.
Trong các biến dạng gây lạm phát: chi phí đẩy; cầu kéo và tiền tệ, các chuyên gia kinh tế đều thống nhất cho rằng: yếu tố tiền tệ, hiện nay, là nguy cơ hàng đầu gây lạm phát cao trở lại.
Trong hai ngày 16 và 17/4 vừa qua, tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trên một số diễn đàn xoay quanh các biến số vĩ mô của Việt Nam, các diễn giả đều thống nhất một nhận định: chỉ số lạm phát của Việt Nam năm nay vẫn khó đoán định nhưng chính biến số này lại là tác nhân ảnh hưởng có sức lan tỏa lớn nhất đối với thị trường chứng khoán; ngoại hối, cán cân thương mại và thâm hụt ngân sách. Theo đó, con số tăng trưởng của nền kinh tế có ý nghĩa hay không đối với mức sống "thực" của người dân cũng do lạm phát quyết định.
Đáng chú ý, ông Alan Pham, kinh tế trưởng nhóm phân tích của VinaSecurities cảnh báo: "Yếu tố gây lạm phát cao chưa mất đi, vẫn tiềm ẩn, cho dù chính sách vừa qua của Chính phủ đã xử lý có hiệu quả" và "Mọi dự đoán trên thị trường chứng khoán đều phụ thuộc khả năng liệu lạm phát năm nay có dưới 01 con số hay không" ...
Trước cơn sốt về nguy cơ tái lạm phát cao ở nước ta được dự báo từ cuối năm 2009, theo đúng lẽ "đánh đổi" chúng ta có thể lạc quan về một thực tế tăng trưởng của nền kinh tế. Thế nhưng, hãy nhìn sâu hơn vào chất lượng của sự tăng trưởng trong thời gian qua, để biết xem sự "đánh đổi" có thực sự đáng giá?
Sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao
Mặc dù tỷ lệ giá trị xuất khẩu của những mặt hàng thế mạnh liên tục tăng, nhưng sự chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu còn hầu như chưa có sự thay đổi về chất trong 20 năm qua. Chưa kể một số mặt hàng hầu như không có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế do đã được bảo hộ quá lâu hoặc giá thành cao mà chất lượng lại không đảm bảo.
Các doanh nghiệp điện tử dân dụng, cơ khí; nhựa...được bảo hộ trong suốt thời kỳ thập kỷ 1990 đã không thể tồn tại khi cạnh tranh với hàng của các nước có cùng điểm xuất phát khi bước vào giai đoạn tăng trưởng. Nhất là từ sau khi hội nhập, những mặt hàng này còn mất đi khả năng cạnh tranh cả ở thị trường trong nước chứ chưa nói đến nước ngoài, tỷ lệ nhập siêu ngày càng tăng cao.
Không chỉ đối với sản phẩm, mà hiệu quả cạnh tranh của doanh nghiệp cũng còn nhiều hạn chế. Ngoài các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn duy trì mức tăng cao trong tỷ suất lợi nhuận, thì các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đặc biệt là những doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ đạt được một mức tỷ suất lợi nhuận khiêm tốn tính trên doanh thu, thậm chí có khi còn thấp hơn cả tỷ lệ lãi vay ngân hàng.
Những bất cập này đã làm giảm khả năng cạnh tranh của kinh tế Việt Nam trên bình diện quốc gia và trở thành mối lo ngại ngày càng nổi cộm khi chúng ta đang hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế quốc tế. Theo xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Việt Nam luôn nằm trong "top" những nước kém năng lực cạnh tranh nhất. Cũng theo những báo cáo của WEF thì lạm phát là một trong 3 vấn đề khó giải quyết và ảnh hưởng nghiêm trọng nhất tới môi trường kinh tế ở Việt Nam.
Tốc độ chuyển dịch chậm biểu hiện trong cả cơ cấu ngành lẫn cơ cấu lao động, công nghệ và đầu tư, tất cả hầu như đều chưa có những chuyển biến rõ rệt theo hướng hiệu quả và hiện đại. Quy hoạch dài hạn nhiều khi lại bị phá vỡ vì những mục tiêu cục bộ trước mắt. Điều này thể hiện sự bất hợp lý và thiếu nhất quán trong điều chỉnh chính sách.
Tăng trưởng của nền kinh tế đang phụ thuộc chủ yếu vào đầu tư nguồn ngân sách và sự bùng phát của các yếu tố bên ngoài (xuất khẩu chiếm 70% tỷ lệ tăng trưởng) sẽ càng làm trầm trọng thêm nguy cơ lạm phát khi nền kinh tế phải "nhập khẩu"cả lạm phát ngoại tệ.
Những dấu hiệu của thiếu bền vững
Hơn bao giờ hết, vấn đề môi trường trở nên vô cùng cấp thiết khi chúng ta phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm trầm trọng do nạn chặt phá rừng, suy thoái tài nguyên đất - nước - sinh học, ô nhiễm môi sinh... như một hệ lụy tất yếu của việc thúc đẩy tăng trưởng nhanh và mạnh trong ngắn hạn. Nguồn lao động dồi dào vốn được coi là một lợi thế lớn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng lại chưa được sử dụng một cách hiệu quả, đã trở thành sức ép kìm hãm phát triển, đồng thời làm hạn chế đi rất nhiều tác động của chính sách an sinh xã hội nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống. Chất lượng giáo dục, y tế còn thua kém rất nhiều so với chuẩn quốc tế trong việc phát triển con người. Việc thực hiện xóa đói giảm nghèo và công bằng xã hội cũng mới chỉ cải thiện được một phần, mà hiệu quả gia tăng cũng còn gián đoạn, không đồng đều giữa các vùng trong cả nước.
Vậy, "đánh đổi" lạm phát để đạt tăng trưởng cao xem ra chưa phải là thích đáng khi đem so sánh với những mặt trái của quá trình tăng trưởng như diễn biến trong những năm qua. Thật khó để hài hòa được giữa mục tiêu kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng trong cùng một thời điểm.
Sự lựa chọn luôn cần "ý chí chính trị" của Chính phủ trong thời điểm cụ thể. Mong muốn, quyết tâm cho mục tiêu "không để lạm phát cao trở lại" khó trở thành hiện thực khi các chính sách tiền tệ; tài khóa và những lợi ích cục bộ của một số ngành hàng then chốt không được phối hợp và có cơ chế kiểm soát theo một định hướng.
Những tín hiệu ban đầu
Năm 2010 với mục tiêu ổn định vĩ mô nhằm tránh nguy cơ giảm đà tăng trưởng trung và dài hạn như chúng ta đã chứng kiến trong những năm gần đây, hạn chế căng thẳng tỷ giá và thâm hụt cán cân thanh toán, mức lạm phát dự kiến mục tiêu mà Quốc hội đưa ra là 7%. Tuy nhiên, kết thúc quý I, tỷ lệ lạm phát năm nay đã được Tổng cục thống kê đưa ra con số 9% so cùng kỳ năm 2009.
Ngay sau đó, Nghị quyết số 18/NQ-CP của Chính phủ ban hành đầu quý II về những giải pháp "bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 6,5% trong năm 2010" thì giải pháp kiềm chế lạm phát đã được đặt lên hàng đầu. Một số chỉ tiêu tiền tệ cũng có sự thay đổi: tổng phương tiện thanh toán nay chỉ còn tăng khoảng 20% (trước 25%) và không thấy đề cập trực tiếp đến con số đặt chỉ tiêu lạm phát 7%. Điều này cho thấy Chính phủ đã có sự quan ngại và dự phòng lạm phát có thể tăng cao hơn mức dự kiến ban đầu.
Giới hạn lạm phát luôn được xác định trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế, nhưng trước những diễn biến theo chiều tiêu cực của lạm phát, chúng ta cần phải chấp nhận đánh đổi tăng trưởng cho mục tiêu kìm chế lạm phát bằng việc tiếp tục áp dụng chính sách tiền tệ thận trọng hơn trong thời gian tiếp theo.
Nhân dân tệ lên giá và tác động đến Việt Nam
Khi thâm hụt thương mại với Trung Quốc gia tăng tại nhiều quốc gia phát triển trên thế giới, sự “tổn thương” của các nền kinh tế hàng đầu đang tạo áp lực lớn đối với chính phủ Trung Quốc, đòi Nhân dân tệ lên giá.
Với việc VND được neo khá chặt vào USD, nếu Nhân dân tệ lên giá so với USD thì tương quan giá trị giữa Nhân dân tệ và VND cũng sẽ thay đổi. Và về lý thuyết, cán cân thương mại giữa hai nước - vốn lệch về phía Việt Nam do đang nhập siêu lớn từ Trung Quốc - được kỳ vọng sẽ tái lập ở mức cân bằng hơn.
Nhìn trên góc độ tổng thể, ngoài quan hệ thương mại, tương quan nợ bằng đồng Nhân dân tệ của Việt Nam cũng có khả năng thay đổi, dù không nhiều, do chỉ chiếm tỷ trọng chưa đến 1% trong tổng nợ nước ngoài của Chính phủ, tính đến cuối tháng 6/2009 (khoảng 178 triệu USD).
Hơn thế, có những lập luận cho rằng quan hệ đầu tư giữa hai nước sẽ chịu tác động từ việc Nhân dân tệ lên giá, theo hướng Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư sang Việt Nam.
Vừa điều chỉnh vừa cân nhắc
10 mặt hàng nhập khẩu chính đã chiếm khoảng 70% kim ngạch năm 2009: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng 4.155 triệu USD; vải các loại 1.566 triệu USD; máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 1.464 triệu USD; xăng dầu các loại 1.290 triệu USD; sắt thép các loại 816 triệu USD; phân bón các loại 596 triệu USD; nguyên phụ liệu dệt may, da giày 407 triệu USD; hóa chất 399 triệu USD; sản phẩm từ sắt thép 387 triệu USD; linh kiện phụ tùng ô tô 314 triệu USD, theo nguồn số liệu từ Tổng cục Hải quan.
Theo Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên, cả áp lực đòi Nhân dân tệ lên giá lẫn quá trình lên giá của đồng tiền này nều đang diễn ra trên thực tế.
Tuy nhiên, ông Thiên cho rằng, Chính phủ Trung Quốc đang cố gắng trì hoãn sự tăng giá Nhân dân tệ để tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao tiềm lực tài chính và tránh gây sốc cho nền kinh tế và xã hội, nên quá trình này đang diễn ra với tốc độ chậm.
Trước sức ép của các nước, Trung Quốc vẫn đang tỏ ra rất thận trọng, TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) nhìn nhận.
“Việc tăng giá Nhân dân tệ có thể diễn ra vào quý 3 hoặc 4/2010, nhưng chỉ vào khoảng 4-5%, tương ứng từ 6,8 Nhân dân tệ/USD lên mức 6,5 Nhân dân tệ/USD. Thậm chí có ý kiến cho rằng không đến mức như vậy”, ông Thành nói với VnEconomy.
Giải thích cho điều này, ông Thành phân tích rằng Trung Quốc đang phải cân nhắc đến vấn đề lạm phát trong nước. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Trung Quốc trong tháng 2/2010 đã tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước, được cho là đang ở mức cao.
Hơn nữa, theo số liệu của Tổng cục Hải quan Trung Quốc, vào tháng 3 vừa rồi, lần đầu tiên Trung Quốc đã nhập siêu tới hơn 7,2 tỷ USD sau 6 năm liền liên tục xuất siêu. Điều này cũng được ông Thành lưu ý khi đề cập lý do chính phủ Trung Quốc thận trọng với việc lên giá Nhân dân tệ.
Lo khó cải thiện nhập siêu
Nhưng dường như, việc đồng Nhân dân tệ lên giá là điều khó tránh khỏi. Theo TS. Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện Khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính), do VND được "neo" khá chặt vào USD, nên nếu Nhân dân tệ lên giá so với USD thì tương quan giá trị giữa Nhân dân tệ và VND cũng sẽ thay đổi.
Và về lý thuyết, khi đồng Nhân dân tệ lên giá, sản phẩm của Trung Quốc sẽ giảm sức cạnh tranh hơn vì giá bán sẽ đắt hơn tương ứng khi xuất khẩu sang Việt Nam. Nhiều chuyên gia được VnEconomy tham vấn có chung nhận định rằng, khi Nhân dân tệ lên giá, Việt Nam có điều kiện cải thiện mức nhập siêu lớn với Trung quốc, vẫn diễn ra liên tục trong nhiều năm gần đây.
Tuy nhiên, Viện trưởng Thiên lại cho rằng, việc tăng giá Nhân dân tệ không mang lại tác động tích cực một chiều cho thế giới như nhiều nước đang kỳ vọng. Ngay cả với các nền kinh tế đang nhập siêu từ Trung Quốc cũng vậy.
Bởi, phần đóng góp ‘thực” của Trung Quốc trong giá trị sản phẩm chỉ chiếm 20-30%, cùng lắm là 40-50%, do ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa. Nếu đồng Nhân dân tệ lên giá, Trung Quốc sẽ được hưởng lợi từ giá nhập khẩu đầu vào rẻ hơn. Tác động tiêu cực của tỷ giá chỉ gây áp lực lên phần “thực”, có thể đang ngày càng nhỏ đi.
Đồng quan điểm, TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho rằng, nhìn vào bản chất của việc Việt Nam đang nhập siêu lớn với Trung Quốc, thì phần cạnh tranh trực tiếp là hàng tiêu dùng cuối cùng không nhiều.
Vì nguyên nhân này, ông Thành cho rằng: “Đồng Nhân dân tệ lên giá thì thương mại Trung Quốc vào Việt Nam có thu hẹp, nhưng sẽ không đáng kể”.
Đầu tư từ Trung Quốc sẽ lớn hơn
“Thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc hiện đã hơn 3.500 USD và ngày càng có nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đi khai thác thị trường nước ngoài, cũng như tại Việt Nam”, Tham tán Kinh tế Thương mại Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Hồ Tỏa Cẩm phát biểu nhân sự kiện Sino Pharm, một doanh nghiệp dược phẩm lớn của nước này, cam kết đầu tư vào Khu công nghệ cao Hòa Lạc cuối tuần trước.
Trên thực tế, đã có hơn 800 dự án của quốc gia láng giềng này “bám rễ” ở Việt Nam, tính cho đến nay, để tận dụng chi phí nhân công rẻ, tài nguyên phong phú và vị trí thuận tiện. Trong khi đó, có những nhận định cho rằng, khi Nhân dân tệ lên giá, khối tài sản của Trung Quốc sẽ lớn lên tương ứng và việc đầu tư ra nước ngoài sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn.
“Xu hướng lan tỏa cơ cấu theo kiểu "đội hình đàn sếu bay" từ Trung Quốc sang Việt Nam dưới tác động của việc đồng Nhân dân tệ lên giá là rất lớn, thậm chí, không tránh khỏi”, TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam khẳng định như vậy.
TS. Võ Trí Thành giải thích thêm, khi đồng tiền đắt lên thì quốc gia đó có khuynh hướng đẩy đầu tư của họ ra nước ngoài, tới các thị trường rẻ hơn. “Nếu Nhân dân tệ lên giá thì có thể Trung Quốc sẽ đầu tư mạnh hơn vào Việt Nam, đứng về dài hạn mà nói”, Phó viện trưởng CIEM khẳng định.
Tuy nhiên, vị chuyên gia này cũng lưu ý rằng, khi chấp nhận đầu tư từ Trung Quốc có những lý do để lo ngại. “Vì đầu tư của Trung Quốc không phải công nghệ nguồn, có thể gây ô nhiễm môi trường...”, ông nói.
Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nhấn mạnh rằng: “Tác động của việc đồng Nhân dân tệ tăng giá đến nền kinh tế thế giới sẽ vô cùng to lớn. Với những nền kinh tế láng giềng của Trung Quốc và có thực lực yếu hơn, sự cảnh báo này càng tăng gấp bội. Nhận định này hàm ý rất rõ cho Việt Nam”.
Nguy cơ mới nhất đe dọa hệ thống tài chính toàn cầu
Nợ của các chính phủ trong thời kỳ khủng hoảng đã cao tới mức trở thành nguy cơ mới nhất đe dọa hệ thống tài chính toàn cầu - đó là cảnh báo từ Báo cáo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố ngày 20/4. Bên cạnh đó, IMF cũng khuyến nghị chính phủ các nước thực hiện 4 biện pháp hầu "hóa giải" nguy cơ này. Jose Vinals, Cố vấn tài chính và Giám đốc bộ phận tiền tệ và các thị trường vốn của IMF nhấn mạnh, hệ thống tài chính toàn cầu và nền kinh tế thế giới đang phục hồi nhờ sự can thiệp chưa từng thấy của các chính phủ nhưng chính trong quá trình này, nợ của các chính phủ tăng quá nhanh, đồng nghĩa với việc các nước có nguy cơ không thể trả được nợ đúng hạn. Quyết toán của các ngân hàng vẫn có nhiều những khoản nợ xấu, người tiêu dùng và nhà kinh doanh vẫn trong tình trạng căng thẳng về tín dụng trong khi sự phục hồi của thị trường tín dụng vẫn rất chậm chạp và bấp bênh. Phần lớn hệ thống tài chính quốc tế vẫn phụ thuộc vào các biện pháp bất thường được các chính phủ thực hiện để chống khủng hoảng như mua các khoản nợ xấu và bơm khoản tín dụng khổng lồ vào các thể chế tài chính yếu kém. Các nguy cơ lớn nhất đã chuyển từ khu vực tư nhân sang khu vực công ở các nước phát triển. Các chính phủ không chỉ phải mua các nợ xấu từ các thể chế tài chính tư nhân mà còn phải tiếp tục tăng vay nợ trong nhiều năm tới để giải quyết hậu quả khủng hoảng. Báo cáo của IMF nêu rõ rằng mặc dù kinh tế toàn cầu phục hồi và sự lành mạnh hơn của hệ thống tài chính toàn cầu, tiến trình phục hồi và của hệ thống tài chính toàn cầu vẫn chưa chắc chắn. Nếu "di sản" của khủng hoảng không được giải quyết rốt ráo, quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu sẽ bị phương hại và thế giới lại đứng trước nguy cơ một cuộc khủng hoảng tài chính mới. Để tránh các hiểm hoạ này, IMF đề nghị chính phủ các nước thực hiện 4 biện pháp chính sách. Thứ nhất là xử lý thận trọng thâm hụt ngân sách để tránh đẩy cuộc khủng hoảng sang giai đoạn mới. Thứ hai là thực hiện êm thuận chiến lược thoát khủng hoảng bảo đảm tạo ra một hệ thống tài chính lành mạnh và sống còn có quy mô thích hợp để có thể cung cấp dòng tín dụng thích hợp cho khu vực tư nhân. Tiếp theo, triển khai các công cụ tài chính trong đó có điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô và các biện pháp thận trọng để xử lý các hiểm hoạ từ các dòng vốn đầu tư mạnh. Và cuối cùng, tiếp tục thúc đẩy các chính sách và cải tổ quy chế để cải thiện thị trường vốn, tăng cường xử lý rủi ro, giảm chi phí cứu các thể chế tài chính trong hệ thống cũng như xử lý các vấn đề của các thể chế tài chính không thể cho phá sản.
Tỷ giá giảm: lợi và hại từ các góc nhìn
Khoảng hơn hai tuần trở lại đây, tỷ giá đô la Mỹ/đồng Việt Nam có khuynh hướng giảm, cả trên thị trường chính thức (qua hệ thống ngân hàng thương mại) và thị trường tự do (các tiệm vàng và những điểm thu đổi ngoại tệ không chính thức). Việc tỷ giá giảm như vậy có ý nghĩa và tác động như thế nào?
Việc tỷ giá giảm hiện nay không phải do yếu tố làm tăng tổng cung ngoại tệ trong nền kinh tế mà là một sự điều chỉnh tạm thời sự mất cân đối trên thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối. Ảnh: Lê Toàn.
Góc nhìn vi mô: nên vay đô la, gửi tiền đồng?
Có nhiều nguyên nhân đã được phân tích để giải thích cho hiện tượng này, trong đó đặc biệt là sự chênh lệch lãi suất (cả tiền gửi và cho vay) đáng kể giữa đô la Mỹ so với đồng Việt Nam.
Một số doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn đã làm phép tính đơn giản: giả sử nếu cần vay 1,91 tỉ đồng thì mỗi tháng họ phải trả số lãi khoảng 28,65 triệu đồng cho mức lãi suất 18%/năm. Thay vào đó, họ có thể đi vay số tiền tương đương 100.000 đô la Mỹ theo lãi suất 6%/năm thì chỉ phải trả số lãi 500 đô la Mỹ/tháng, tương đương 9,55 triệu đồng. Vậy là doanh nghiệp đi vay được lợi hơn đến 19,1 triệu đồng.
Đối với người gửi tiền, việc tính toán cũng đơn giản như vậy: nếu gửi 1,91 tỉ đồng thì số lãi sau một tháng gửi theo lãi suất 11,5%/năm là 18,3 triệu đồng; trong khi chuyển số tiền đó sang đô la Mỹ được khoảng 100.000 đô la rồi đem gửi ngân hàng thu lãi khoảng 375 đô la/tháng theo lãi suất 4,5%/năm, tương đương 7,16 triệu đồng. Tính ra người gửi tiền sẽ thiệt hơn 11 triệu đồng nếu gửi bằng đô la Mỹ.
Như vậy, nếu là người gửi tiền thì họ sẽ chọn gửi bằng tiền đồng, trong khi người đi vay thì chọn vay đô la Mỹ. Nếu người gửi tiền chỉ có đô la Mỹ thì họ phải bán đi để lấy tiền đồng gửi ngân hàng, trong khi người đi vay nếu cần tiền đồng thì sẽ đi vay đô la Mỹ rồi bán lại lấy tiền đồng.
Các hành vi của cả hai nhóm người gửi tiền và người đi vay đã làm tăng nguồn cung đô la Mỹ, đẩy tỷ giá giao ngay trên thị trường ngoại tệ giảm, góp phần hạ nhiệt căng thẳng tỷ giá trong thời gian qua. Liệu thực trạng này có phải là kết quả của các điều chỉnh có chủ đích của các nhà hoạch định chính sách? Điều đáng tiếc là nó không những chỉ có tác dụng tạm thời trong ngắn hạn mà còn góp phần tạo ra các chu kỳ có tính rủi ro trong dài hạn.
Như vậy, ở cả góc độ người gửi tiền cũng như người đi vay thì các tính toán trên là chưa ổn vì họ chưa tính hết các xu thế bất lợi có thể phát sinh là hệ quả từ chính những hành vi giao dịch ngắn hạn của mình. Cụ thể, các tính toán quy đổi tiền tệ trên chỉ đơn giản sử dụng một mức tỷ giá thống nhất (điều này đã từng đúng trong một số thời điểm trước đây khi tỷ giá mua và bán luôn chạm trần quy định), trong khi cần phải lưu ý đến chênh lệch tỷ giá mua và bán (bid - offer spreads) của ngân hàng.
Điều quan trọng hơn khi tính các khoản trả nợ bằng các đồng tiền khác nhau phải căn cứ vào tỷ giá kỳ hạn chứ không phải tỷ giá giao ngay. Tỷ giá kỳ hạn thường được tính dựa trên lý thuyết về sự cân bằng lãi suất CIP (covered interest parity). Tất cả các hành vi đầu cơ, phòng vệ, hay kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage) đều là cơ sở của lý thuyết CIP. Thực chất các hành vi giao dịch trên sẽ không chỉ làm thay đổi tỷ giá giao ngay như được phân tích hiện nay mà còn là tỷ giá kỳ hạn, và kể cả lãi suất của các đồng tiền liên quan.
Thực tế đã cho thấy dư nợ bằng ngoại tệ đã tăng 14,07% so với tháng 12-2009 (theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư) phản ánh nhiều doanh nghiệp đã tăng cường đi vay ngoại tệ thay vì nội tệ. Hành vi đi vay ngoại tệ thay vì nội tệ trong ngắn hạn sẽ tạo áp lực tăng lãi suất cho vay ngoại tệ nhưng giảm lãi suất cho vay nội tệ. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp đi vay ngoại tệ để thanh toán cho hàng nhập khẩu, trong khi số khác thì bán lượng ngoại tệ này để lấy nội tệ phục vụ cho hoạt động kinh doanh hoặc đầu tư (có thể là gửi ngân hàng). Chính hành vi này đã làm cho tỷ giá giao ngay giảm trong thời gian qua. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải phân tích xu hướng dài hạn của lãi suất và tỷ giá kỳ hạn.
Việc đi vay ngoại tệ khác với mua ngoại tệ một cách căn bản. Nếu như mua ngoại tệ thì đó là một sự chuyển giao quyền sở hữu đối với ngoại tệ, trong khi đi vay thì chỉ là sự chuyển giao quyền sử dụng mà thôi. Như vậy, việc đi vay buộc phải trả nợ sau một kỳ hạn nhất định trong khi mua ngoại tệ không tạo ra áp lực này. Các doanh nghiệp đi vay ngoại tệ chắc chắn đã tính đến điều này, song vấn đề là doanh nghiệp đó có khả năng tạo ra ngoại tệ để trả nợ hay không.
Về điều này thì chỉ các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu mới có thể có ngoại tệ để trả nợ, trong khi doanh nghiệp nhập khẩu thì chỉ có cách đi mua ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Không có số liệu cho biết bao nhiêu phần trăm doanh nghiệp đi vay ngoại tệ hiện nay có hoạt động xuất khẩu, tuy nhiên điều chắc chắn là nó sẽ gây áp lực không nhỏ lên tỷ giá kỳ hạn.
Ngoài ra, khuynh hướng thay đổi của lãi suất do sự thay đổi của các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, cán cân thanh toán; hay sự điều chỉnh chính sách tiền tệ và tài khóa cũng sẽ làm thay đổi tỷ giá kỳ hạn. Các doanh nghiệp có thể sử dụng phương pháp mô phỏng đơn giản để tính toán các khả năng có thể. Khi ấy, các tính toán ở trên có thể là lợi bất cập hại. Tức là, nếu tỷ giá tăng thì khoản lợi về chi phí lãi trên thị trường tiền tệ chưa hẳn đã bù được cho khoản thiệt hại tỷ giá trên thị trường ngoại hối.
Góc nhìn vĩ mô: cán cân thương mại và nợ nước ngoài
Đứng ở góc độ vĩ mô, cần nhận thấy rằng tỷ giá giảm sẽ không khuyến khích xuất khẩu, trong khi lại càng khuyến khích nhập khẩu, gây áp lực lớn lên cán cân thương mại. Số liệu thống kê cho thấy nhập siêu trong quí 1-2010 đã đạt mức 3,5 tỉ đô la Mỹ, bằng 25% kim ngạch xuất khẩu. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu đạt 17,5 tỉ đô la, tăng 37,6% so với cùng kỳ; trong khi kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 14,01 tỉ đô la, giảm 1,6% so với cùng kỳ. Dưới cơ chế tỷ giá thả nổi, cầu nhập khẩu tăng lên trong khi cung xuất khẩu giảm thì sẽ gây áp lực tăng tỷ giá, tức tạo ra cơ chế tự điều chỉnh cho cán cân thương mại. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là tỷ giá đô la Mỹ/đồng Việt Nam luôn bị kìm hãm bởi cơ chế điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Lập luận tăng tỷ giá sẽ làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài là không thuyết phục bởi hàng năm Việt Nam luôn là nước có khoản trả nợ ròng dương. Chẳng hạn, trong năm 2009, kế hoạch Chính phủ Việt Nam sẽ trả nợ 930 triệu đô la Mỹ, trong khi hạn mức vay nợ thương mại lên đến khoảng trên 4 tỉ đô la, chưa tính các khoản vay ưu đãi và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trên 1,7 tỉ đô la Mỹ.
Mặc dù con số thực tế giải ngân so với kế hoạch thấp nhưng ngân lưu nợ nước ngoài ròng vẫn dương. Điều này cho thấy việc tăng tỷ giá chưa hẳn đã gây bất lợi cho dịch vụ nợ của Việt Nam. Trong khi đó gánh nặng nợ sẽ lớn hơn đối với nền kinh tế nếu cứ mãi để cho cán cân thương mại thâm hụt ngày càng lớn như hiện nay.
Tác động ngắn hạn, thách thức dài hạn
Nhìn một cách tổng thể sẽ nhận ra rằng việc tỷ giá giảm hiện nay chỉ có tính chất ngắn hạn và không bền vững. Nếu so với giai đoạn nửa đầu năm 2007 - khi ấy tỷ giá giảm là do dòng vốn đầu tư nước ngoài (chủ yếu là vốn đầu tư gián tiếp) đổ vào Việt Nam tăng mạnh, ước khoảng 9 tỉ đô la Mỹ - thì việc tỷ giá giảm hiện nay không phải do yếu tố làm tăng tổng cung ngoại tệ trong nền kinh tế mà là một sự điều chỉnh tạm thời sự mất cân đối trên thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối. Ngoài ra, sự điều chỉnh tỷ giá hiện nay có thể giúp cải thiện phần lỗi và sai sót lên đến 9,4 tỉ đô la trên bảng cán cân thanh toán năm 2009 mà nguyên nhân thực chất không phải mang tính kỹ thuật.
Tuy nhiên, sự điều chỉnh ngắn hạn của tỷ giá sẽ làm tăng rủi ro trong các hoạt động kinh doanh, tạo ra những chu kỳ kinh tế có tính bất ổn cao. Điều đáng tiếc là không mấy doanh nghiệp ở Việt Nam sử dụng các công cụ phái sinh như hợp đồng kỳ hạn (forwards), hoán đổi (swaps), hay quyền chọn (options) để bảo hiểm rủi ro tỷ giá.
Trong khi đó, các thách thức mới của Chính phủ cũng như NHNN đối với vấn đề này như mới chỉ bắt đầu. Khi các khoản nợ đô la Mỹ hiện nay đến hạn, áp lực nảy sinh và rủi ro không chỉ đối với các doanh nghiệp không có nguồn thu ngoại tệ mà còn gây trở ngại đối với cả mục tiêu ổn định vĩ mô của Chính phủ.
AIG bán 53 máy bay lấy tiền trả nợ
International Lease Finance Corp (ILFC) – Công ty cho thuê máy bay thuộc Tập đoàn bảo hiểm AIG vừa phải bán 53 chiếc máy bay dân dụng nằm trong bộ sưu tập quý giá của mình cho công ty Macquire của Australia để lấy gần 2 tỷ USD tiền trả nợ. Phần lớn máy bay được bán là máy bay Boeing 737 và Airbus 320. Macquire được xem là đã vớ được một món hời vì giá trị sổ sách của số máy bay này là 2,3 tỷ USD, cao hơn mức giá gần 2 tỷ USD trong thỏa thuận giữa hai bên. Sở dĩ AIG phải bán số máy bay với giá thấp như vậy bởi tập đoàn đã từng rao bán toàn bộ bộ phận cho thuê máy bay ILFC nhưng không tìm được người mua. Để cứu AIG khỏi kết cục phá sản, tháng 9/2008, AIG được Chính phủ Mỹ bơm hơn 182 tỷ USD, đổi lại chính phủ liên bang được quyền kiểm soát gần 80% cổ phần của công ty. Do đó, để kiếm đủ tiền trả nợ Chính phủ, AIG đã liên tục bán bớt tài sản và chi nhánh trên khắp thế giớiHai trong số 53 chiếc máy bay dân dụng của ILFC sẽ phải bán cho công ty Macquire của Australia để lấy gần 2 tỷ USD tiền trả nợ
Ngân hàng tăng vốn điều lệ: Nặng gánh!
Kiểm soát tín dụng "bó" lợi nhuận
Với kế hoạch tăng vốn điều lệ được các ngân hàng đề ra, trong năm nay sẽ có một lượng cổ phiếu khổng lồ từ lĩnh vực tài chính - ngân hàng được đổ ra thị trường. Không chỉ với các ngân hàng chưa niêm yết hay ngân hàng quy mô vừa và nhỏ mà ngay cả các nhà băng có vốn điều lệ lên đến gần chục nghìn tỷ đồng, đồng thời đã niêm yết trên sàn chứng khoán tập trung cũng ồ ạt phát hành cổ phiếu tăng vốn. Cung cổ phiếu ngân hàng được các chuyên gia trong ngành chứng khoán dự báo sẽ áp đảo cầu bắt đầu từ cuối quý III, hoặc đầu quý IV/2010 tới.
Song điều lo ngại nhất đối với các nhà băng không chỉ là khó hoàn thành kế hoạch tăng vốn điều lệ mà chính là áp lực lợi nhuận và đảm bảo tỷ lệ cổ tức cho cổ đông khi vốn ngày một tăng nhanh. Trong khi đó, mục tiêu kiểm soát tăng trưởng tín dụng đã được NHNN đưa ra thông điệp từ đầu năm 2010 là khoảng 25%.
Ông Lê Quang Trí, Tổng giám đốc Navibank cho biết, ngân hàng này không quá lo ngại với kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng trong năm nay so với mức hiện tại là 1.000 tỷ đồng. Các cổ đông của Navibank, trong đó có 2 cổ đông lớn là Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) và Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn (SGI) luôn sẵn sàng cho việc góp vốn. Tuy nhiên, vốn điều lệ tăng nhanh lại tạo áp lực lợi nhuận lớn lên Ban điều hành và áp lực cổ tức gia tăng. Việc HĐQT và Ban điều hành phải nỗ lực để có thể đảm bảo tỷ lệ cổ tức cho cổ đông ở mức hợp lý là điều không dễ dàng trong bối cảnh thị trường còn khó khăn. Theo kế hoạch, trong năm nay Navibank dự kiến chi cổ tức cho cổ đông ở mức 10% so với năm 2009 là 11%. Lợi nhuận trước thuế Navibank xây dựng cho năm nay là trên 350 tỷ đồng.
Sở dĩ tỷ lệ cổ tức của Navibank trong năm nay giảm so với năm trước theo ông Trí là do áp lực gia tăng khi tăng vốn. Để đạt được mức lợi nhuận tương ứng với tốc độ tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng (tăng gấp ba so với đầu năm 2010) thì tăng trưởng dư nợ phải tăng gấp ba và huy động vốn cũng đạt mức tương ứng (theo kế hoạch năm 2010, mục tiêu tăng trưởng tín dụng của Navibank ở mức 70%, tương đương số dư nợ tính đến cuối năm là 17.000 tỷ đồng). Tuy nhiên, trong năm nay, ngân hàng khó có thể thực hiện được mục tiêu này, nhất là lại phải tuân thủ chủ trương tăng trưởng tín dụng bị kiểm soát ở mức 25%.
Đại diện một ngân hàng khác cũng cho hay, không quá khó để hoàn thành kế hoạch tăng vốn điều lệ đưa ra, vì giá bán cổ phần chỉ bằng mệnh giá và thậm chí nhiều nhà băng còn phát hành không cho cổ đông từ nguồn thặng dư sẵn có. Việc tăng vốn được xem là điều kiện cần thiết cho hoạt động của ngành trong bối cảnh thị trường tài chính - ngân hàng Việt Nam ngày càng hội nhập sâu và cạnh tranh gay gắt hơn. Song cái khó nhất đối với các nhà băng là vốn điều lệ tăng nhanh trong bối cảnh phải kiểm soát mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức thấp hơn năm trước, trong khi việc mở rộng mạng lưới của các ngân hàng bị hạn chế hơn. Vì thế, các ngân hàng sẽ rất khó đảm bảo được tỷ lệ cổ tức cho cổ đông ở mức cao như mong muốn của nhà đầu tư.
"Vốn điều lệ tăng lên 1.000 - 2.000 tỷ đồng đối với một ngân hàng là không quá lớn, nhưng cái quan trọng là trên cơ sở vốn điều lệ tăng thêm, các ngân hàng phải đảm bảo huy động gấp 10 lần vốn điều lệ và cho vay ra được thì mới đảm bảo tỷ lệ cổ tức", vị đại diện ngân hàng trên nói và cho rằng, áp lực này sẽ gia tăng hơn đối với các nhà băng quy mô vừa và nhỏ. Bởi với các ngân hàng này, nguồn thu đóng góp vào tổng lợi nhuận vẫn chủ yếu từ hoạt động tín dụng, chiếm đến khoảng 80% trong tổng nguồn thu, trong khi đó nguồn thu này lại giảm so với trước. Lãi suất cho vay thỏa thuận hiện ở khối ngân hàng này ở mức bình quân 15 - 16%/năm đối với khách hàng doanh nghiệp và trên dưới 16%/năm áp dụng cho cá nhân, nhưng chi phí huy động vốn đầu vào phải áp dụng mức lãi suất cao hơn so với các nhà băng quy mô lớn nên lãi biên thu về từ hoạt động tín dụng sẽ giảm so với trước.
Khó… vẫn phải tăng vốn
Theo kế hoạch vừa được ĐHCĐ thông qua Western Bank sẽ tăng vốn điều lệ từ 1.000 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng sau khi thực hiện việc niêm yết (dự kiến trong quý II này). Sau đó, Ngân hàng sẽ tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng vào cuối năm 2010, trong khi, lợi nhuận trước thuế Western Bank dự kiến thu về trong năm nay chỉ ở mức 240 tỷ đồng. Với GiaDinh Bank, áp lực tăng vốn trong năm nay cũng không thua kém vì hiện vốn điều lệ của Ngân hàng đang ở mức thấp 1.000 tỷ đồng. DaiA Bank, Ficombank, VietA Bank, NamA Bank… cũng đang chịu áp lực lớn trong việc tăng vốn điều lệ.
Trong khi đó, các nhà băng quy mô lớn cũng cho rằng, không thể để vốn điều lệ dẫm chân tại chỗ. "Vốn điều lệ năm sau phải cao hơn năm trước mới có thể nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thị trường tài chính - ngân hàng Việt Nam đã có sự tham gia của ngân hàng con 100% vốn nước ngoài và họ đang từng bước đẩy mạnh phát triển", Tổng giám đốc một ngân hàng nói và cho biết, tham vọng của ngân hàng này là đến năm 2015, vốn điều lệ phải đạt mức từ 15.000 - 20.000 tỷ đồng so với mức xấp xỉ gần 10.000 tỷ đồng hiện nay. DongA Bank trong năm nay cũng sẽ nâng vốn điều lệ từ 3.400 tỷ đồng lên 6.000 tỷ đồng, Sacombank tăng vốn từ 6.700 tỷ đồng hiện nay lên 9.179 tỷ đồng vào cuối năm 2010…
Theo ông Trần Phương Bình, Tổng giám đốc DongA Bank, tăng vốn điều lệ sẽ tăng áp lực lợi nhuận lên ban điều hành, song việc tăng vốn là yếu tố cần thiết cho quá trình phát triển hoạt động ngân hàng, nhất là khi Việt Nam đã hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Tăng vốn điều lệ, ngân hàng sẽ có thêm điều kiện để mở rộng quy mô hoạt động. Chẳng hạn với việc mở rộng mạng lưới hoạt động, theo quy định hiện hành muốn mở một chi nhánh tại khu vực TP. HCM và Hà Nội, ngân hàng phải đáp ứng đủ điều kiện 100 tỷ đồng/chi nhánh và 50 tỷ đồng/chi nhánh ở các tỉnh thành khác, trong khi trước đây chỉ cần từ 20 - 50 tỷ đồng cho một điểm.
Đồng quan điểm, một vị cán bộ cấp cao của Sacombank cho hay, việc tăng vốn điều lệ sẽ làm tăng áp lực lợi nhuận và cổ tức tương ứng, song chủ trương của Sacombank là không chi trả cổ tức cho cổ đông ở mức cao và chỉ thực hiện ở mức 15 - 16%/năm, nhằm đảm bảo được cả hai mục tiêu là quyền lợi của cổ đông và không quá áp lực quá lên HĐQT, Ban điều hành trong hoạt động khi vốn tăng lên.
Vì sao chỉ tiêu lợi nhuận Vietcombank giảm?
Năm 2010, Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank) đặt chỉ tiêu đạt lợi nhuận trước thuế 4.500 tỷ đồng, giảm tới 10,07% so với năm 2009.
Yêu cầu phân loại nợ theo tiêu chí mới cùng việc trích lập dự phòng rủi ro là nguyên nhân chính khiến chỉ tiêu lợi nhuận năm 2010 của Vietcombank giảm.
Đây là sự quan tâm đầu tiên được cổ đông đặt ra chất vấn Hội đồng Quản trị Vietcombank tại Đại hội cổ đông thường niên lần thứ 3, tổ chức sáng nay (19/4).
Cụ thể, tại đại hội trên, Vietcombank đưa ra một số chỉ tiêu kế hoạch cơ bản năm 2010, trong đó lợi nhuận là 1 trong 2 chỉ tiêu giảm so với năm 2009 (cùng với chỉ tiêu lập chi nhánh và phòng giao dịch tăng thêm). Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2010 của ngân hàng này là 4.500 tỷ đồng, giảm 10,07% so với con số thực hiện được trong năm 2009.
Trước vấn đề này, ông Nguyễn Phước Thanh, Tổng giám đốc Vietcombank, đưa ra một số thông tin đáng chú ý trong nội dung giải trình.
Trước hết, ông Thanh đặt vấn đề cần phải nhìn lại con số 5.004 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế đã đạt được trong năm 2009. Và kết quả này được giải thích từ những yếu tố khá đặc thù và mang tính bối cảnh của thị trường.
Năm 2009, Vietcombank đặt chỉ tiêu nợ xấu khoảng 3,5%, nhưng thực hiện trên thực tế chỉ ở mức 2,47%. Theo đó, ngân hàng này không phải thực hiện trích lập dự phòng 1.200 tỷ đồng theo như chỉ tiêu đó, chỉ khoảng 800 tỷ đồng và giảm dự phòng khoảng 420 tỷ đồng.
Đáng chú ý là trong năm qua, Vietcombank có một khoản thu khá lớn từ hoạt động kinh doanh ngoại hối với khoảng 450 tỷ đồng tăng thêm. Theo ông Thanh, đây là hoạt động thế mạnh của ngân hàng này hiện nay. Riêng đầu năm 2009, trong ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, giá nhiều công cụ tài chính trên thế giới giảm mạnh, Vietcombank đã nắm cơ hội mua vào 80 triệu USD trái phiếu của Việt Nam ở nước ngoài và bán ra chỉ khoảng 2 tháng sau đó, thu lãi 20 triệu USD.
Một thuận lợi khác được Tổng giám đốc Vietcombank phân tích là do chênh lệch đầu vào đầu ra năm 2009 tương đối tốt, cùng với hệ số sử dụng vốn cao. Thêm vào đó, chính sách hỗ trợ lãi suất đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, cũng như thúc đẩy nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp…
Ngoài ra, đóng góp vào con số 5.004 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế hợp nhất là nguồn thu từ các công ty con, trong đó nổi bật là công ty chứng khoán (VCBS).
Thế nhưng, năm nay, trong khi hầu hết các ngân hàng thương mại khác đều đưa ra những chỉ tiêu lợi nhuận tăng, thì Vietcombank lại giảm. Tổng giám đốc Nguyễn Phước Thanh cho biết mức giảm 500 tỷ đồng dự kiến đó có từ Vietcombank (giảm khoảng 320 tỷ đồng) và các công ty con (giảm khoảng 174 tỷ đồng).
Các nguồn giảm theo phân tích của ông Thanh chủ yếu có từ sự điều chỉnh về phân loại nợ xấu, về giảm thu từ lãi, hay chi phí hoạt động tăng…, trong khi bối cảnh thị trường có nhiều yếu tố không thuận lợi như năm 2009.
Năm 2010, dự kiến thu nhập từ lãi của Vietcombank giảm khoảng 420 tỷ đồng. Chi phí huy động đã tăng cao, được ông Thanh nhấn mạnh ở sự khốc liệt trong cạnh tranh lãi suất huy động hiện nay. Trong khi đó, Vietcombank vẫn là ngân hàng Nhà nước nắm chi phối, là ngân hàng lớn phải chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp, dù vẫn chịu ràng buộc lợi ích của các cổ đông.
Một lý do khác, khi không còn hỗ trợ lãi suất ngắn hạn, lãi suất tăng lên sẽ hạn chế nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp. Đó cũng là lý do Vietcombank chỉ đặt chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay ở mức 20%.
Nguyên nhân lớn nhất khiến chỉ tiêu lợi nhuận Vietcombank năm 2010 giảm mạnh chủ yếu có từ việc điều chỉnh phân loại nợ xấu. Năm 2009, nợ xấu ngân hàng này là 2,47%, thực hiện phân loại theo Điều 6 Quyết định 493 (định lượng). Năm 2010, kế hoạch đặt ra là thực hiện theo Điều 7 Quyết định 493 (định tính) với lộ trình khoảng 3,5%. Theo đó, chi phí trích lập dự phòng phải cao hơn, ảnh hưởng tới lợi nhuận. Dự tính số trích dự phòng sẽ tăng thêm khoảng 730 tỷ đồng và tổng là 1.500 tỷ đồng trong năm nay.
Tuy nhiên, bù lại, Vietcombank dự kiến năm 2010 sẽ đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi, dự kiến tăng khoảng 25%, đạt 1.130 tỷ đồng; trong đó tăng thu từ dịch vụ khoảng 250 tỷ đồng; tăng thu từ kinh doanh chứng khoán, trái phiếu 640 tỷ đồng; thu bất thường từ thu hồi nợ xấu khoảng 114 tỷ đồng.
Tính chung, dự kiến lợi nhuận trước trích dự phòng năm 2010 của Vietcombank vẫn cao hơn năm 2009 khoảng 230 tỷ đồng. Nhưng yêu cầu trích dự phòng khiến chỉ tiêu đặt ra thấp hơn năm 2009. Và theo nhận định của ông Thanh, trong điều kiện thị trường năm nay thì thực hiện được chỉ tiêu 4.500 tỷ đồng lợi nhuận là một vấn đề không đơn giản. “Chỉ tiêu đó được thực hiện khi thị trường không có những biến động chệch hướng kế hoạch, huy động phải đảm bảo đạt được 23% và tín dụng phải đạt được 20%”, ông Thanh nói.
Riêng quý 1/2010, theo tính toán chưa đầy đủ, lợi nhuận trước thuế của Vietcombank đạt khoảng 1.400 tỷ đồng.
Một số chỉ tiêu kế hoạch cơ bản năm 2010 của Vietcombank TT Chỉ tiêu TH 2009 KH 2010 Tăng trưởng 1 Tổng tài sản (tỷ đồng) 255.496 293.820 15,00% 2 Dư nợ cho vay (tỷ đồng) 141.621 169.945 20,00% 3 HĐV từ nền kinh tế (tỷ đồng) 169.458 208.433 23,00% 4 Lợi nhuận trước thuế (tỷ đồng) 5.004 4.500 -10,07% 5 Lao động cuối kỳ (người) 10.401 11.961 15,00% 6 Chi phí lương trên lợi nhuận trước thuế chưa bao gồm lương 28,37% 32,00% 12,80% 7 Số chi nhánh và phòng giao dịch tăng thêm 53 46 -13,21% 8 Tỷ lệ nợ xấu (theo định tính) 2,47% 3,50% 41,70% 9 Cổ tức (đồng/cp) 1.200 1.200 0,00%