Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

Tăng trưởng tín dụng: 2,95% hay 3,34%?



Sắp tới, có khả năng các ngân hàng sẽ được cho vay ngắn hạn với lãi suất thỏa thuận và trần lãi suất huy động cũng được gỡ bỏ. Ảnh: Lê Toàn.

Tín dụng quí 1-2010 tăng trưởng 2,95% so với cuối năm 2009 - đó là con số do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) đưa ra trong báo cáo tại phiên họp Chính phủ tháng 3 vừa qua. Một ngày sau đó, trả lời trên website của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu công bố tăng trưởng tín dụng cùng thời gian trên là 3,34%. Vậy con số nào chính xác?

Tăng trưởng tín dụng tháng 3 gấp 7,5 lần tháng 1?

Hãy cùng xem lại những số liệu về tăng trưởng tín dụng trong quí 1-2010 do NHNN đưa ra. Tháng 1-2010 tín dụng tăng trưởng 0,26%; tháng 2-2010 1,14%; quí 1-2010 3,34%. Như vậy, tăng trưởng tín dụng của tháng 3-2010 là 1,94%, gấp 7,5 lần mức tăng của tháng 1. Con số này đã khiến nhiều ngân hàng bất ngờ vì theo phản ánh của họ, tổng dư nợ cho vay của họ trong tháng 3 không tăng bao nhiêu so với tháng 2.

Còn thống kê của chi nhánh NHNN TPHCM chỉ ra rằng tăng trưởng tín dụng của thành phố ba tháng đầu năm ước chỉ 0,37% so với cuối năm ngoái. Mức tăng trưởng tín dụng hai tháng đầu năm của thành phố đã là 0,34%, như vậy tín dụng tháng 3-2010 ước tăng vẻn vẹn 0,03%.

Tín dụng của TPHCM thường là chỉ báo về sự biến động dư nợ của cả hệ thống do lượng vốn cung ứng cho nền kinh tế ở đây cao. Liệu có một sự bất hợp lý nào đó không khi tăng trưởng tín dụng tháng 3-2010 của các ngân hàng TPHCM chỉ có 0,03% trong khi cả nước là 1,94%?

Dư nợ ngoại tệ tăng vọt

Bên cạnh khoảng cách giữa những con số, điều đáng lo ngại là cơ cấu tăng trưởng tín dụng đang có sự mất cân đối nghiêm trọng.

Theo báo cáo của Bộ KHĐT, trên phạm vi cả nước dư nợ cho vay bằng tiền đồng ba tháng đầu năm tăng 0,57% so với cuối năm 2009, nhưng dư nợ bằng ngoại tệ lại tăng tới 14,07%. Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng ngoại tệ so với tăng trưởng tín dụng tiền đồng gấp gần 25 lần! Tại TPHCM, dư nợ cho vay tiền đồng ước giảm 1,81% so với tháng 12-2009 trong khi dư nợ cho vay ngoại tệ ước tăng 7,2%.

Có hai lý do giải thích cho sự “nhảy vọt” của dư nợ cho vay ngoại tệ: Thứ nhất là trong quí 1-2010 NHNN đã giảm dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ và quy định trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ áp dụng cho các tổ chức kinh tế tối đa 1%/năm. Động thái này giúp các ngân hàng giảm chi phí huy động vốn ngoại tệ và có thêm nguồn ngoại tệ để cho vay.

Thứ hai chênh lệch lãi suất cho vay giữa đô la Mỹ và tiền đồng đang quá lớn, vượt mức 10%/năm, khuyến khích doanh nghiệp vay ngoại tệ. Ngoài ra, năm ngoái tăng trưởng tín dụng ngoại tệ khá thấp, nên hiện nay khi doanh nghiệp chuyển qua vay đô la Mỹ, thì dư nợ vay bằng đồng tiền này tăng lên từ xuất phát điểm tăng trưởng thấp của năm trước.

Việc dư nợ cho vay ngoại tệ tăng nhanh và mạnh như hiện tại sẽ dẫn tới tình trạng đô la hóa nền kinh tế ở mức độ sâu rộng hơn. Nó tạo sức ép lên tiền đồng và làm cho lộ trình biến đồng Việt Nam thành đồng tiền chuyển đổi trở nên ngày càng dài và càng xa!

Con số tăng trưởng tín dụng bằng tiền đồng ước giảm tới 1,81% ở TPHCM nói lên điều gì? Điều rõ nhất là các ngân hàng, thay vì cung ứng tiền đồng cho nền kinh tế, đang thu hồi vốn về. Kế đó các tổ chức tín dụng không có tiền đồng để cho vay. Nguyên nhân là vốn huy động bằng tiền đồng ba tháng qua của thành phố ước giảm 0,54% so với đầu năm. Nhưng điều đáng chú ý hơn là các doanh nghiệp không thể vay tiền đồng, không chỉ vì ngân hàng không dư dả tiền đồng, mà chủ yếu vì lãi suất cho vay bằng đồng nội tệ quá cao, từ 14-18%/năm.

Gỡ rào cản lãi suất

Cuộc họp giữa NHNN và tổng giám đốc các ngân hàng thương mại ngày 2-4-2010 tại Hà Nội và tại TPHCM đã phát đi những tín hiệu gỡ bỏ rào cản lãi suất. Theo đó NHNN sẽ có quy định chính thức cho phép các ngân hàng được thực hiện lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay ngắn hạn và trần lãi suất huy động sẽ không còn. Nói cách khác, từ nay trở đi lãi suất cho vay và huy động của ngân hàng được xem như “thả nổi”.

Vẫn còn đó những e ngại cơ chế mới sẽ đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, nhưng thực tế lại đang nghiêng về khả năng các ngân hàng sẽ giảm lãi suất đầu ra để cạnh tranh cho vay. Trước mắt, các ngân hàng quốc doanh đã cam kết sẽ kéo lãi suất cho vay về quanh mức 14%/năm. Mức này cao hơn trần lãi suất cho vay hiện hành là 12%/năm nhưng lại thấp hơn 2-4%/năm so với lãi suất thực (cộng thêm phí) mà người vay đang phải trả.

Tổng giám đốc một ngân hàng quốc doanh nói rằng nhiều hợp đồng vay vốn với lãi suất 12%/năm ở ngân hàng ông đang nằm chờ vì với mức đó, ngân hàng không thể cho vay. Nay lãi suất lên 14%/năm, các hợp đồng vay sẽ được giải tỏa.

Có thể lãi suất 14-15%/năm vẫn còn cao so với sức chịu đựng của doanh nghiệp, nhưng ít nhất nó phản ánh đúng cung cầu vốn trong thực tế và quan trọng là dòng chảy vốn lại lưu thông. Nhìn lại sự biến động tiền tệ trong quí 4-2009 và quí 1-2010 điều đáng quan tâm là dòng chảy tín dụng đã bị thắt quá đột ngột sau một thời gian “bung” ra mạnh.

Ở TPHCM, từ mức tăng trưởng tín dụng tháng 9 và 10-2009 khoảng 3% xuống 0,03% tháng 3-2010. Với sự lên xuống ở mức quá cao của tăng trưởng tín dụng ấy, doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung phải quay như chong chóng thì mới xoay xở kịp kế hoạch sản xuất, kinh doanh.

Tín dụng ngân hàng là máu nuôi dưỡng nền kinh tế và nền kinh tế chỉ có thể phát triển một khi tín dụng tăng trưởng ổn định, hài hòa với mục tiêu tăng trưởng GDP. Ngăn chặn lạm phát là nhiệm vụ và trách nhiệm của cơ quan điều hành chính sách tiền tệ, và có nhiều cách để kiểm soát lạm phát mà không để doanh nghiệp bị tổn thương bởi tăng trưởng tín dụng giật cục, lúc quá cao, khi quá thấp. Đưa dòng chảy tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng trở lại mức bình thường, bình quân khoảng 2%/tháng, tương đương 24%/năm (so với tăng trưởng tín dụng cả nước năm 2010 được ấn định là 25%) đang là đòi hỏi bức thiết.

Dư địa cho tăng trưởng tín dụng ba quí còn lại của năm đang quá rộng. Vấn đề là tăng trưởng tín dụng phải ở tốc độ hợp lý, nếu không tình trạng đang “thắt” chặt lại được “cởi” gấp có thể lặp lại. Chạy từ thái cực này sang thái cực khác sẽ không chỉ làm doanh nghiệp, ngân hàng “mệt mỏi”, mà còn có thể gây ra những biến động mà hậu quả là phải tốn kém công sức, tiền bạc để điều chỉnh.

Tín dụng thấp “bó” tăng trưởng?



Quý 1/2010, hai thông số quan trọng của nền kinh tế diễn biến trái chiều: tăng trưởng tín dụng thấp trong khi tốc độ tăng GDP cao.

Không có hỗ trợ của tín dụng, ngành xây dựng khó đạt mức tăng trưởng cao. Ảnh: Lê Quang Nhật

Cho rằng không có sự bất hợp lý trong tương quan giữa hai yếu tố trên, song các chuyên gia kinh tế dự báo, chính sách tiền tệ thắt chặt chắc chắn sẽ tác động đến khả năng tăng trưởng những quý sau.

Tín dụng thấp đáng ngại

Theo báo cáo của ngân hàng Nhà nước (NHNN), quý 1/2010, tín dụng đối với nền kinh tế ước tăng 2,95% so với cuối năm 2009 (tín dụng bằng VND tăng 0,57%, tín dụng bằng ngoại tệ tăng 14,07%). Mức tăng này khá thấp so với cùng kỳ những năm trước, đặc biệt là với vốn VND.

Cụ thể, tốc độ tăng trưởng vốn tín dụng trong quý 1 của ba năm 2007, 2008, 2009 lần lượt là 6%, 10% và 2,67%. Riêng quý 1/2009, nền kinh tế rơi vào thời điểm khó khăn nhất nên mức tăng tín dụng ở mức thấp, song vốn đầu tư bằng VND cũng tăng tới 3,9%. “Thực tế vừa qua, các doanh nghiệp rất khó tiếp cận vốn VND, do khan hiếm và đắt đỏ. Diễn biến thị trường phù hợp với thông số của NHNN”, TS Lê Xuân Nghĩa, phó chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia nhận xét.

Lý giải về việc tăng trưởng tín dụng thấp, song GDP quý 1 năm nay vẫn đạt mức khá cao, tới 5,83%, ông Nghĩa phân tích: thường thì hai yếu tố này tương quan theo tỷ lệ thuận nhưng có độ trễ. Nghĩa là, vốn đổ vào nền kinh tế phải sau một chu kỳ mới trở thành hàng hoá, dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2009 khá cao (gần 38%) nên tăng trưởng GDP quý 1 năm nay khá cao cũng dễ hiểu. Mặt khác, mốc so sánh của hai yếu tố này cũng có sự khác biệt: tăng trưởng tín dụng so sánh với kỳ gần nhất trong khi GDP so với cùng kỳ năm ngoái.

TS Võ Trí Thành, phó viện trưởng viện Nghiên cứu kinh tế trung ương cũng đồng quan điểm khi nói rằng, bên cạnh hiệu ứng có độ trễ, tín dụng chỉ là “một trong nhiều yếu tố đầu vào tác động đến tăng trưởng”.

Nói về mức chênh lệch khá lớn giữa tốc độ tăng tín dụng, cung tiền so với tăng trưởng GDP, trả lời báo chí, một số chuyên gia nói có thể nhận ra sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng của các doanh nghiệp qua việc nền kinh tế Việt Nam phải sử dụng bao nhiêu vốn để tạo ra một đồng tăng trưởng. Năm 2009 này, tăng trưởng GDP khoảng 5,2%, trong khi tăng trưởng tín dụng lên đến gần 38%. Như vậy, phải cần tới khoảng 7 đồng tín dụng để tạo ra một đồng tăng trưởng. Ngoài ra, chỉ số ICOR của Việt Nam là trên tám lần, cho thấy Việt Nam cần đầu tư khoảng 8 đồng để thu được một đồng tăng trưởng và rõ ràng là vốn đầu tư tín dụng chiếm phần lớn trong số đó. Đây là một tỷ lệ quá cao so với nhiều nước trong khu vực, như Indonesia là nước cao nhất có tỷ lệ này là 3,32, còn lại chỉ từ 1 đến 1,3. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của ta quá thấp, chi phí vốn quá lớn, gây áp lực lên nền kinh tế.

Tăng trưởng cao: chưa vội mừng

Ông Thành cũng chia sẻ một góc nhìn khác về mức tăng trưởng được nhìn nhận là khá cao của quý 1 năm nay. Theo chuyên gia kinh tế này, tốc độ tăng 5,83% là kết quả so sánh với mức 3,8% của GDP quý 1/2009 – thời điểm nền kinh tế Việt Nam rơi vào “đáy” khủng hoảng. “Chừng mực nào đó, có thể thấy kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu phục hồi. Nhưng nói tăng trưởng cao thì chưa hẳn”, ông Thành nhận xét.

TS Lê Xuân Nghĩa cũng lưu ý thêm, mặc dù tín dụng không phải là yếu tố quyết định, song “tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp của quý 1 năm nay dự báo tăng trưởng kinh tế trong những quý tới khó cao”. Một số chuyên gia kinh tế khác cùng chung mối quan ngại, chính sách tiền tệ thắt chặt quá đáng (mục tiêu tăng phương tiện thanh toán 20%, tăng tín dụng 25% cả năm 2010) sẽ có thể sẽ “bó” tăng trưởng kinh tế năm nay.

Trong khi đó, chuyên gia kinh tế trưởng ngân hàng Thế giới, ông Ivailo Izvorski lại cho rằng: “Mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5% năm 2010 có thể đạt được một cách dễ dàng. Nhiệm vụ thách thức hơn là phải giữ cho lạm phát ở dưới mức 7%”. Theo ông Ivailo Izvorski, những yếu tố đe doạ mục tiêu kiểm soát lạm phát như: giá nguyên liệu quốc tế tăng cao, việc phá giá VND và việc điều chỉnh giá năng lượng. Áp lực lạm phát có thể thấy rõ hơn trên thị trường tài sản, với chỉ số chứng khoán có xu thế đi lên trong nhiều tháng liên tục, và giá đất cũng tăng cao.

Trên cơ sở nhận định này, ông Ivailo Izvorski khuyến nghị: “Những biến động này cho thấy rằng chính sách tài khoá và tiền tệ mở rộng của Chính phủ kể từ năm 2008 đã sắp đi tới giới hạn. Sắp đến lúc Việt Nam cần rút dần các biện pháp kích thích kinh tế”.

Thống đốc Nguyễn Văn Giàu: “Thỏa thuận không có nghĩa là nới lỏng!



Ông Nguyễn Văn Giàu, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

Hiện thực hóa mục tiêu giảm mặt bằng lãi suất theo Nghị quyết 18/CP của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước cho rằng đó là quá trình từng bước để lãi suất tự điều tiết theo cung cầu thị trường chứ không phải nới lỏng tiền tệ như một số ý kiến nêu ra…

Xung quanh vấn đề này, trong cuộc trao đổi với chúng tôi, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu nói:

- Trong việc triển khai Nghị quyết 18 của Chính phủ, sự ra đời của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN trong ngày 14/4, cho phép tổ chức tín dụng áp dụng cơ chế cho vay với lãi suất thỏa thuận, được coi là bước đi rất đúng thời điểm. Thông tư không chỉ tạo sự ổn định về mặt tâm lý mà còn đạt nhiều mục tiêu khác: ổn định thị trường tiền tệ; tăng vốn cho nhu cầu hợp lý của nền kinh tế; đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng; đồng thời, giảm mặt bằng lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp.

Ngân hàng Nhà nước đã thảo luận vấn đề này với các ngân hàng, họ đồng thuận rất cao. Hiện tại, hầu hết ngân hàng đều cho vay 14%/năm, nhất là ý thức việc hạ lãi suất cho vay nông nghiệp và xuất khẩu.

Ở đây, phải hiểu rõ là Ngân hàng Nhà nước đang từng bước trả lãi suất về cho thị trường chứ không phải nới lỏng tiền tệ như một vài ý kiến nêu gần đây. Trong giai đoạn hiện nay, Ngân hàng Nhà nước vẫn phải thực hiện chính sách điều hành chủ động, linh hoạt nhưng thận trọng.

Ngoài ra, song song với việc ban hành thông tư trên, Ngân hàng Nhà nước sẽ phối kết hợp với Bộ Công thương tìm các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, góp phần ổn định cán cân thanh toán. Cụ thể, ngân hàng sẽ tập trung ngoại tệ cho vay nhập khẩu với những mặt hàng thiết yếu, ngoại trừ những mặt hàng trong nước sản xuất được. Để thực hiện tốt vấn đề này, chúng tôi còn chờ sự phối hợp của Bộ Công Thương trong việc cung cấp danh mục hàng hóa thiết yếu, số lượng cần nhập khẩu… để cân đối nguồn ngoại tệ.

Thưa Thống đốc, khi khống chế trần lãi suất thì viện dẫn điều 476 Luật Dân sự, vậy khi “cho vay thỏa thuận” thì cơ sở pháp lý dẫn chiếu cho Thông tư 12 là gì?

Cơ sở pháp lý của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN cho phép tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng VND theo lãi suất thỏa thuận thì phải bám vào Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành và Nghị quyết 12 (ban hành tháng 3/2010 - PV), Nghị quyết 18 của Chính phủ. Cùng đó là văn bản cho phép cho vay thỏa thuận với tiêu dùng đầu năm 2009 của Ngân hàng Nhà nước.

Chứ còn nếu mà bắt bẻ từ ngữ thì không thể nào làm được.

Đại diện một số ngân hàng thương mại nói rằng, họ sẵn sàng giảm lãi suất hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng đề nghị Ngân hàng Nhà nước không nên quá lo lạm phát mà “dè xẻn” hỗ trợ thanh toán ngân hàng thương mại khi cần thiết. Thống đốc nói gì về vấn đề này?

Chính sách hỗ trợ lãi suất xét về toàn cục là có ý nghĩa lớn nhưng cũng có mặt trái, vì chúng thúc đẩy tăng trưởng tín dụng rất nhanh.

Tháng 1/2009, tăng trưởng tín dụng 0,65% so với cuối năm trước, tháng 2/2009 tăng 1,14% nhưng đến tháng 3/2009 khi thực hiện hỗ trợ lãi suất thì con số này là 4,22%, tháng 6/2009 tăng 4,44%, kéo theo cả năm tăng trưởng tín dụng 37,7% so với năm trước, cao hơn huy động vốn 10% (huy động vốn tăng 27%/năm).

Sự bùng nổ tín dụng do mặt trái chính sách, nhưng cũng một phần do quản trị của nhiều ngân hàng chưa tốt. Điều này không nên đổ lỗi hoàn toàn cho Ngân hàng Nhà nước, vì bất cứ ngân hàng nào cũng phải tự biết bảo vệ mình trước ham muốn tăng trưởng tín dụng.

Còn việc hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng thương mại thì Ngân hàng Nhà nước vẫn làm thường xuyên đấy chứ. Tuy nhiên chúng tôi cũng phải kiềm chế, vì nếu quá tay, tăng trưởng tín dụng có thể lên tới 43% - 44%! Ngân hàng Nhà nước bao giờ cũng phải hài hòa giữa hai mục tiêu tăng trưởng và lạm phát và công việc đó không khác gì người đi trên dây.

Còn chuyện “bơm - hút” trên nghiệp vụ thị trường mở thì thế này. Tháng 1/2010: Ngân hàng Nhà nước chào mua 264 nghìn tỷ đồng nhưng số xin mua chỉ 153 nghìn tỷ đồng và Ngân hàng Nhà nước đưa lớn hơn mức chào mua 111 nghìn tỷ đồng. Tháng 2, Ngân hàng Nhà nước chào mua 262 nghìn tỷ đồng nhưng sức mua chỉ 73 nghìn tỷ đồng. Tháng 3, Ngân hàng Nhà nước chào mua 218 nghìn tỷ đồng nhưng các ngân hàng thương mại chỉ trúng thầu 94 nghìn tỷ đồng. 12 ngày đầu tháng 4, Ngân hàng Nhà nước chào mua 97 nghìn tỷ đồng nhưng ngân hàng thương mại chỉ trúng thầu mua 47 nghìn tỷ đồng.

Nhưng các ngân hàng thương mại “sức yếu” thì lấy đâu tiền để mua giấy tờ có giá để giao dịch trên thị trường mở?

Đừng nói là họ không có tiền. Họ không làm đấy thôi!

Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia trên thị trường sơ cấp đối với trái phiếu và các giấy tờ có khác. Nhưng vì tâm lý ỷ lại “nếu mình có khó khăn, Nhà nước sẽ hỗ trợ” nên ít mua mà thôi.

Như thế là đáng trách. Rất nhiều lần tôi đã phê phán các ngân hàng thương mại và nghiêm khắc với cách suy nghĩ này.

Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước chưa công bố phân loại ngân hàng để người gửi tiền có cơ sở phân biệt mức độ rủi ro từng ngân hàng và đó là một thiệt thòi cho người dân khi biến cố xảy ra. Thống đốc nghĩ sao?

Đây là ý kiến chính đáng, tôi sẽ tiếp thu ý kiến này và Ngân hàng Nhà nước sẽ ban hành văn bản quy định trích lập tỷ lệ rủi ro phải theo thông lệ quốc tế. Hiện có một số ngân hàng thương mại đã trích được theo điều 7 của Quyết định 493, tiệm cận với thông lệ quốc tế.

Ngân hàng Nhà nước sẽ minh bạch trong đánh giá, xếp hạng từng ngân hàng theo tiêu chí chuẩn mực và sẽ công bố. Những ngân hàng năm ngoái xếp loại D nhưng năm nay được lên A thì cũng phải giải thích lý do. Đây là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi ngân hàng và đồng thời, đó cũng là cách đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền.

Cân đối tổng thể, tỷ trọng cho vay và huy động có “lệch pha” như trước đây, thưa Thống đốc?

Mặc dù trong bối cảnh kỳ vọng lạm phát đang cao trong quý 1/2010 nhưng huy động vốn toàn ngành đang tăng trưởng mạnh mẽ.

Đến ngày 9/4/2010, huy động vốn tăng trưởng 4,18% so với đầu năm và riêng 9 ngày đầu tháng 4/2010 đã tăng 0,68% so với cuối tháng 3/2010, trong đó, tiền gửi từ dân cư tăng 10,2% so với đầu năm, 9 ngày đầu tháng 4/2010 tăng 1,2% so với cuối tháng 3/2010.

Đặc biệt, đến nay, dư nợ cho vay tăng 3,84% so với đầu năm, thấp hơn 0,34% so với tổng huy động vốn và đó là điều đáng mừng vì lâu lắm rồi, tốc độ tăng trưởng huy động tiền gửi lớn hơn tốc độ tăng trưởng dư nợ.

Hiện tại, có tình trạng “mặc cả lãi suất” của khách hàng gửi tiền, nhất là các tập đoàn, tổng công ty và điều này đã gây áp lực lên lãi suất huy động của ngân hàng thương mại. Thống đốc có ý kiến gì về vấn đề này?


Nghị quyết 18/CP của Chính phủ đã nhấn mạnh rõ vai trò trách nhiệm của chủ tịch, tổng giám đốc tập đoàn kinh tế, tổng công ty trong việc bình ổn kinh tế. Có một điều tôi băn khoăn là nhiều doanh nghiệp Nhà nước là "con nợ" của ngân hàng, nhưng họ lại có nguồn tiền để gửi ngân hàng, đấy là vấn đề cần phải xem xét.

Chắc chắn ở đây không có câu chuyện vay lãi suất cao rồi gửi để lấy lãi suất thấp. Theo quy luật, lãi suất tiền vay bao giờ cũng cao hơn lãi suất tiền gửi. Nếu là năm ngoái (có hỗ trợ lãi suất 4% - PV) thì điều đó còn có cơ sở nhưng năm nay là có yếu tố không bình thường ở đây.

Có những tập đoàn giàu nhất quốc gia mà còn nợ tới 24 ngân hàng với mấy chục ngàn tỷ đồng. Có tập đoàn nào mà không nợ ngân hàng đâu? Thế rồi, tại sao trong cùng một tập đoàn mà chỗ thì đi vay, chỗ thì cho vay? Vậy thì trách nhiệm điều hòa dòng vốn, hỗ trợ thành viên trong cùng một tổng công ty, tập đoàn của người đứng đầu để ở đâu?

Còn chuyện mặc cả lãi suất với ngân hàng, có lần tôi đã nói với lãnh đạo các doanh nghiệp lớn là không nên như thế. Mà nếu có tiền thì hãy tập trung vốn cho sản xuất và còn dư dả thì đem trả nợ ngân hàng.


Giám đốc ADB Việt Nam: “Thắt chặt tiền tệ là cần thiết”
(Theo Anh Quân // Vneconomy)

Ông Ayumi Konishi - Ảnh: Anh Quân.

“Chúng tôi chúc mừng Việt Nam vì đã thành công trong việc giảm nhẹ tác động xấu của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đồng thời các biện pháp kích thích đã được đưa ra mà không gây nhiều tốn kém”, Giám đốc Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tại Việt Nam, ông Ayumi Konishi, nói với VnEconomy.

Tuy nhiên, ông không quên nhấn mạnh đến mức thâm hụt tài chính lớn và tăng trưởng tín dụng cao, dẫn đến áp lực lạm phát và mất giá đồng nội tệ.

Dự trữ ngoại hối không quá mức báo động

Nếu nhìn vào tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam trong quý 1/2010, lạm phát tăng 8,51% (bình quân); nhập siêu đạt 3,5 tỷ USD, trong khi dự trữ ngoại hối giảm..., Việt Nam có ở trong tình thế khó khăn hơn so với các nước khác trong khu vực?

Nhờ nhanh chóng hoạch định và triển khai các biện pháp kích thích kinh tế, kinh tế Việt Nam bắt đầu phục hồi từ quý 2 năm ngoái, sớm hơn so với nhiều quốc gia.

Vào ngày 25/11, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt và Chính phủ tái khẳng định lại chính sách ưu tiên hàng đầu của mình là đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô.

Chúng tôi cho rằng ở thời điểm hiện tại, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức không giống các quốc gia khác, vốn cũng đang tìm kiếm thời điểm thích hợp để đưa ra “chiến lược tồn tại” từ những biện pháp kích thích, và chúng tôi không cho rằng tình hình của Việt Nam là khó khăn hơn.

Một dấu hiệu tích cực là sự gia tăng vốn giải ngân FDI. Chúng tôi cũng nghĩ rằng mức dự trữ ngoại hối vào khoảng 12 tuần nhập khẩu hiện vẫn trong tầm kiểm soát, và không có gì là quá mức "báo động”, tất nhiên vẫn cần phải theo dõi chặt tình hình.

Giai đoạn phát triển và cơ cấu kinh tế hiện tại của Việt Nam kích thích dòng chảy ODA và FDI, dẫn đến việc nhập nhẩu thiết bị lớn hơn. Hơn nữa, do giá trị gia tăng nội địa của hàng xuất khẩu Việt Nam rất nhỏ, việc thúc đẩy xuất khẩu nhiều hơn đòi hỏi nhập khẩu thêm nguyên, nhiên liệu đầu vào và thiết bị.

Nhìn vào chênh lệch giữa tỷ giá thị trường chợ đen và tỷ giá chính thức từ hơn 10% vào năm 2009 chỉ còn 3,5% vào tháng 3 năm nay, chúng ta có thể nhận thấy áp lực lên VND đã được giảm nhẹ.

Theo ông, vì sao nhập khẩu của Việt Nam tăng mạnh tới trên 37% nhưng xuất khẩu giảm 1,6% trong quý 1? Sự mất cân đối này dẫn đến những hệ lụy gì?

Để hiểu tình hình tốt hơn, chúng ta cần phải xem xét chi tiết từng mặt hàng nhập khẩu cũng như xuất khẩu. Như đã nói ở trên, giải ngân FDI và ODA dẫn đến việc nhập khẩu lớn hơn và cũng có yếu tố mùa vụ liên quan đến xuất khẩu.

Việc gia tăng đột biến kim ngạch nhập khẩu vàng và các mặt hàng dự trữ khác là điều cần quan tâm. Nhưng nếu nó là do gia tăng giải ngân ODA và FDI thì tình hình không đáng báo động.

Theo chúng tôi được biết, thặng dư tài khoản vốn của Việt Nam lớn hơn thâm hụt tài khoản vãng lai, và khi nào trạng thái này còn tồn tại, chúng tôi nghĩ rằng không cần thiết phải quá lo ngại về vấn đề thâm hụt thương mại.

Vì sao giải ngân FDI tháng 3 lại đạt 1,5 tỷ USD, con số rất cao kể cả đối với giai đoạn kinh tế phát triển mạnh như 2008? Nếu nhìn vào cơ cấu thu hút vốn FDI, các dự án sản xuất thay thế hàng nhập khẩu dường như ngày càng ít đi. Theo ông, chính sách thu hút FDI của Việt Nam có vấn đề gì?

Theo tôi, FDI tăng, đặc biệt là giải ngân FDI phản ánh sự đánh giá của nhà đầu tư đối với cơ hội kinh doanh tại Việt Nam bao gồm cả cả hai triển vọng: như một thị trường và một địa bàn sản xuất tốt.

Chúng tôi không cho rằng việc dòng vốn FDI đầu tư mạnh vào bất động sản là tín hiệu xấu. Bởi vì trong một chừng mực nào đó, Việt Nam vẫn thiếu hụt văn phòng cho thuê, và FDI vào bất động sản cũng phản ánh triển vọng thị trường du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn có những lo ngại về tình trạng bong bóng tài sản trong thời gian gần đây.

Việt Nam cần phải tiếp tục cải thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh, cũng như cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực có kỹ năng. Đó là tất cả những vấn đề dài hạn, trong khi sự ổn định kinh tế vĩ mô được coi là chìa khóa cho Việt Nam để tiếp tục thu hút/nâng cao dòng vốn FDI.

Thắt chặt tiền tệ là cần thiết

Chính sách lãi suất và tỷ giá thời gian gần đây có sự thay đổi khi cho áp dụng lãi suất thỏa thuận. Theo ông, lạm phát sẽ chịu tác động như thế nào từ chính sách này?

Lạm phát khiến người dân kỳ vọng sự suy yếu của VND, cùng lúc đó, sự mất giá của đồng nội tệ càng làm tăng giá hàng hoá nhập khẩu bao gồm cả xăng dầu, và kết quả là lạm phát. Đó là lý do tại sao lòng tin của người dân vào sự ổn định kinh tế vĩ mô là điều cần thiết để giảm áp lực lạm phát.

Thắt chặt tiền tệ là cần thiết để kiềm chế lạm phát và khôi phục lòng tin thị trường vào sự ổn định của kinh tế vĩ mô Việt Nam. Loại bỏ trần lãi suất đã thắt chặt hơn chính sách tiền tệ, và việc điều chỉnh tỷ giá VND cũng là cần thiết để đảm bảo thị trường ngoại hối hoạt động suôn sẻ.

Liệu Việt Nam có đảm bảo kinh tế vĩ mô ổn định với mức lạm phát có thể lên đến 10% trong năm nay? Ông có lý giải cụ thể của riêng mình?

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ đạt 6,5% cho năm 2010 và 6,8% cho năm 2011, lạm phát trung bình năm tương ứng ở mức 10% và 8%. Chúng tôi đã giả định rằng Chính phủ sẽ tiếp tục ưu tiên cao nhất cho sự ổn định, thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô, và chúng ta cũng cần lưu ý về độ trễ giữa thời điểm áp dụng chính sách và tác động của nó đến nền kinh tế.

Khi mà Chính phủ có thể theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao hơn chắc chắn sẽ đi kèm với áp lực lạm phát, và chúng tôi cho rằng những con số này trong năm 2010 và 2011 có thể là hệ quả của chính sách vĩ mô.

Cán cân thanh toán đã được bù đắp

Từ năm 2009 đến nay, ADB, WB... đã có một số khoản tín dụng chuyển trực tiếp vào ngân sách của Việt Nam. Xin ông giải thích rõ việc này?

Trong năm 2009, các biện pháp kích thích kinh tế dẫn đến thâm hụt tài chính lớn và những thâm hụt như vậy cần thiết được hỗ trợ tài chính.

Ngay cả trước khi năm 2009, cùng với Chương trình Tín dụng Hỗ trợ giảm nghèo (PRSC), Việt Nam đã được nhận hỗ trợ trực tiếp vào ngân sách từ nguồn vốn ODA bởi một số đối tác phát triển.

ADB đã tăng đồng tài trợ cho PRSC từ 25 triệu USD lên 100 triệu USD và cũng cung cấp một khoản trị giá 500 triệu USD khác thuộc Quỹ Hỗ trợ Chống suy thoái theo chu kỳ.

Chúng tôi được biết Ngân hàng Thế giới cũng tăng hỗ trợ cho PRSC và áp dụng chính sách giải ngân nhanh dựa trên một khoản vay trị giá 500 triệu USD. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản cũng cung cấp một gói hỗ trợ ngân sách đặc biệt trị giá khoảng 500 triệu USD.

Việc phát hành trái phiếu quốc tế vừa rồi với mức lãi suất cao hơn một số nước cùng khu vực được lý giải là do cán cân thanh toán của Việt Nam mất cân đối hơn. Quan điểm của ông?

Thâm hụt Ngân sách nói chung và các biện pháp kích thích kinh tế nói riêng đã được tài trợ, và chúng tôi tin phát hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ vào đầu năm nay là một hành động phù hợp.

Bởi vì, việc định giá 6,95% được coi là thỏa đáng đối với tình hình thị trường lúc đó, và trong giai đoạn Chính phủ đã cạn kiệt các nguồn lực, không có sẵn nguồn vốn rẻ mà mang lại nhiều thuận lợi hơn.

Và việc phát hành trái phiếu quốc tế đã cải thiện được cán cân thanh toán của đất nước.

Có khuyến cáo rằng Việt Nam nên tăng thu ngân sách để giảm bội chi chứ không nên giảm chi. Theo ông, Việt Nam cần cân nhắc điều gì và chọn giải pháp nào để cân bằng thu chi ngân sách trong giai đoạn tới?

Chúng tôi tin rằng Việt Nam cần làm cả hai cách. Điều này sẽ rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả của chi tiêu công. Vì ở mức độ nhất định, một vài khoản chi tiêu công không được cho là đã được sử dụng có hiệu suất và hiệu quả nhất, Chính phủ không nên ngần ngại chi tiêu công hợp lý.

Đồng thời, rất cần thiết phải nỗ lực tăng khả năng thu thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân, không chỉ vì cân nhắc đến hiệu quả thu thuế mà còn bởi tính công bằng của nó.

Mặt bằng lãi suất: Sức ép tăng trong ngắn hạn



NHNN đang xem xét bỏ trần lãi suất huy động hoặc giảm dự trữ bắt buộc của các NH để tăng tính thanh khoản

Có hai luồng ý kiến ngược nhau về lãi suất. Áp lực tăng lãi suất ngày một tăng, nhưng chỉ dấu hạ cũng đã có. Doanh nghiệp ứng phó thế nào?

Sau khi những thông tin kinh tế vĩ mô của quý I/2010 được công bố, các chuyên gia kinh tế khuyến cáo, áp lực đẩy lãi suất tăng ngày càng lớn. Hiện, mặt bằng lãi suất cho vay trên thị trường đang ở mức 14% - 15%/năm, (lãi suất huy động theo quy định chỉ được phép ở mức 10,49%/năm, tuy nhiên các ngân hàng thường “lách” và huy động ở mức khoảng 12% - 13%/năm).

Mặt bằng lãi suất mới

Ông Lê Khắc Duẩn - Giám đốc công ty Tư vấn và Đầu tư tài chính S&D cho rằng, Chính phủ đang rất khó khăn trong việc giải quyết bài toán giữa tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát. Và với giải pháp giữ nguyên lãi suất cơ bản trong tháng 4 ở mức 8%/năm, có thể thấy các cơ quan quản lý đang muốn trì hoãn để tìm ra giải pháp tốt hơn. “Dù sao chúng tôi cũng không tin rằng việc trì hoãn này có thể kéo dài quá tháng 4 và các chính sách mới có thể sẽ bắt đầu được đưa ra ở nửa cuối tháng 4 hoặc đầu tháng 5” - ông Duẩn dự đoán. Và đương nhiên, khi lãi suất cơ bản tăng thì thị trường sẽ xác lập một mặt bằng lãi suất mới.

Cơ sở để ông Duẩn đưa ra nhận định trên chính là những diễn biến của nền kinh tế. Vấn đề thứ nhất, tốc độ tăng CPI quý I đã tới 4,12%, khiến mối lo ngại lạm phát cao là có cơ sở. Đáng chú ý, gốc rễ của đợt gia tăng lạm phát này lại đến từ việc gia tăng chi phí sản xuất thông qua giá xăng dầu, điện... Vấn đề thứ hai, tình trạng nhập siêu quý I/2010 ước đạt 3,51 tỷ USD, chiếm tới 25% kim ngạch xuất khẩu. Điều này buộc Bộ Công Thương phải họp khẩn để tìm giải pháp. Tuy nhiên, có vẻ chưa có biện pháp khả thi vì nhóm hàng cần nhập khẩu gồm nguyên liệu, máy móc thiết bị chiếm tới 82,6% tổng kim ngạch nhập khẩu. Có vẻ như việc đưa ra giải pháp ổn định tỷ giá VND/USD đã không đạt được kết quả như kỳ vọng ban đầu mà vẫn làm các doanh nghiệp xuất khẩu gặp nhiều khó khăn.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại phiên họp Chính phủ diễn ra từ ngày 30/3 - 1/4/2010, tổng dư nợ tín dụng của toàn nền kinh tế tính đến 31/3/2010 ước chỉ tăng 2,95% so với tháng 12/2009.

Ở góc độ kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, ông Trần Hoài Nam - Phó tổng giám đốc ngân hàng Quốc tế (VIB) cũng phải thừa nhận, mặt bằng lãi suất trong thời gian tới sẽ tăng. Tuy nhiên, ông Nam lại dự đoán, mức tăng này không quá lớn và thời điểm tăng sẽ vào cuối năm 2010. Ông Nam cho rằng, xét trên hai yếu tố là tăng trưởng GDP và tăng trưởng tín dụng 3 tháng qua, hai con số này không quá mâu thuẫn nhau. Dự báo mức tăng GDP cả năm và tăng trưởng tín dụng đặt ra cho năm 2010 là khá hài hòa. Đồng thời, các doanh nghiệp hiện cũng rất cẩn trọng và cân nhắc trong việc sử dụng đồng vốn do chi phí vốn khá cao. Điều này giúp mặt bằng lãi suất sẽ không có hiện tượng tăng đột biến, ông Nam khẳng định.

“Trông giỏ bỏ thóc”

Lãi suất cao sẽ làm tăng mạnh chi phí đầu vào đối với các doanh nghiệp là điều đương nhiên. Ông Nguyễn Văn Cường - chủ một cơ sở sản xuất các mặt hàng da than thở: “Người tiêu dùng vẫn chưa thoát khỏi tâm lý lo ngại về khủng hoảng kinh tế nên đầu ra của doanh nghiệp vẫn còn khó khăn. Trong khi đó, đầu vào cứ liên tục bị cộng thêm chi phí thì doanh nghiệp chỉ còn cách cố gắng hoạt động cầm chừng hoặc tạm ngừng sản xuất”.

Chia sẻ với khó khăn của doanh nghiệp, tại hội thảo “Nhìn lại kinh tế năm 2009 và dự báo kinh tế năm 2010”, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, doanh nghiệp sẽ buộc phải huy động vốn theo cách khác để tránh gặp phải những biến động về tỷ giá cũng như những biến động về chính sách. “Tôi biết điều này là vô cùng khó khăn với các doanh nghiệp bởi rất khó để chúng ta có thể đoán định được chính sách. Tôi cho rằng cách tốt nhất để giúp các doanh nghiệp là NHNN nên có một lộ trình, định hướng cụ thể về những hành động của mình để ít nhất doanh nghiệp cũng có thể dự báo được mức biến động có thể xảy ra. Còn trong điều kiện như hiện nay, các doanh nghiệp cần thận trọng trong việc huy động vốn và đầu tư. Cách tốt nhất là xem giỏ mà bỏ thóc” - TS Doanh bình luận.

Còn đối với những doanh nghiệp có kế hoạch, dự án phát triển, đầu tư khả thi cần nguồn vốn, ông Trần Hoài Nam - Phó tổng giám đốc VIB đưa ra lời khuyên, doanh nghiệp nên tiếp cận qua các kênh: Tận dụng những chính sách hỗ trợ của Chính phủ cũng như các nguồn vốn hỗ trợ phát triển từ các ngân hàng nước ngoài như chính sách hỗ trợ lãi suất 2% cho khoản vay trung và dài hạn; Dự án SMEFP (dự án tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa - một kế hoạch cho vay lại dựa theo thỏa thuận vay giữa Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) giai đoạn 3; Dự án RDFII…

Mỗi nhận định và dự báo đều có lý lẽ riêng của mình, nhưng quyết định điều hành chính sách tiền tệ quốc gia thì lại thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước. Trong bối cảnh nền kinh tế đang trên đà hồi phục và sẽ có không ít doanh nghiệp chớp cơ hội này để “bật lên”, thì một chính sách ổn định tương đối, có thể dự báo được và cân bằng được lợi ích các bên liên quan là hết sức cần thiết. Điều này sẽ không chỉ giúp nền kinh tế phát triển bền vững mà còn giúp các doanh nghiệp rũ bỏ tâm lý “lình xình” chờ chính sách.

Ý kiến người trong cuộc

Ông Nguyễn Tuấn, Trưởng phòng Phân tích và Tư vấn đầu tư Cty Chứng khoán Quốc gia

Trong năm 2008, với việc thắt chặt tiền tệ mạnh mẽ của Chính phủ để chặn lạm phát, chúng ta đã thấy lãi suất cơ bản có xu hướng bắt đầu tăng vào tháng 5/2008, đạt đỉnh vào tháng 8/2008 và trở lại ổn định, giữ ở mức thấp vào tháng 12/2008. Chu kỳ tăng giảm lãi suất đó là 8 tháng.

Hiện tại, phương án thắt chặt tiền tệ của Chính phủ cũng đã được thực hiện từ cuối năm 2009 và lãi suất đã có xu hướng tăng từ cuối tháng 12/2009. Với tình trạng hiện nay, khi lạm phát không quá cao như 2008, tôi cho rằng chu kỳ lãi suất tăng với mục tiêu chặn lạm phát sẽ không kéo dài đến 8 tháng như 2008 mà có thể chỉ kéo dài khoảng 6 tháng, và từ đó đưa đến khả năng lãi suất sẽ có xu hướng giảm dần trong 3 tháng tới.

Lý do khiến USD mất giá 10% trong vòng 12 tháng qua?



Đồng USD mất giá 10% trong vòng 12 tháng qua
Tạp chí kinh tế “Tiền tệ và Thị trường” Mỹ vừa công bố những con số gây sốc về nền kinh tế số 1 thế giới cùng kết luận, đây là hiểm họa lớn nhất đối với người dân Mỹ.
Tạp chí liệt kê top 4 con số đầu tiên gồm: con số về nợ quốc gia lên tới 12.680 tỷ USD (chiếm 88,5% tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ của Mỹ trong cả năm); chi phí cho các lĩnh vực an sinh xã hội, chăm sóc y tế, cựu chiến binh và lương hưu đã lên tới 108.000 tỷ USD; nợ của các bang – khoảng 3.000 tỷ USD, trong đó nhiều bang không có khả năng thanh toán; tổng tất cả các khoản nợ trong nước và nước ngoài của chính phủ liên ban, các bang và các địa phương đã lên tới 123.600 tỷ USD.
Theo tạp chí, năm ngoái, nợ của Mỹ tăng thêm 1.400 tỷ USD và năm nay chính quyền Obama đã làm cho con số này tăng thêm 1.600 tỷ nữa. Ngoài ra, trong nỗ lực duy trì lãi suất thấp, Quỹ Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã phải tạo quỹ 1.700 tỷ USD để mua lại các chứng khoán thế chấp, trái phiếu kho bạc và các trái phiếu chính phủ khác. Từ 10/9/2008 đến 10/3/2010, FED đã tăng sàn tiền tệ quốc gia (tổng số tiền lưu hành công cộng và tiền ký quỹ trong các ngân hàng) từ 850 tỷ USD lên 2,1 ngàn tỷ USD, tăng 250% chỉ trong 18 tháng.
Mặc dù tiếp tục in tiền ồ ạt, lãi suất của trái phiếu kho bạc thời hạn 10 năm vẫn tăng từ 3,2% lên 3,86% kể từ tháng 12/2009. Và đây cũng chính là lý do khiến đồng USD mất giá 10% chỉ trong 12 tháng qua.

Dân giữ USD tương đương dự trữ ngoại tệ?


Trước tết, Nguyễn Văn Hưng, một người buôn ôtô ở Hà Nội bỏ ra lượng tiền mặt tròn 5 tỉ VND để mua USD. Một phần trong số ngoại tệ đó, Hưng kể, được chuyển cho con gái đầu của anh đang học tại trường đại học danh tiếng hàng đầu thế giới Oxford ở Anh, số còn lại anh cho vào két để ở nhà. “Tôi dự kiến cháu học năm năm sẽ mất khoảng 5 tỉ đồng. Đang sẵn tiền nên tôi mua hết USD. Chưa chuyển hết cho cháu thì giữ USD chắc cũng không bị mất giá như tiền đồng”, Hưng, người đang sở hữu gần chục căn nhà ở Hà Nội sau những phi vụ trúng quả lớn ở Đức và Tiệp Khắc cách đây 20 năm, nói.

Thật khó biết được số lượng những bậc phụ huynh làm giống như anh Hưng – tức mua ngoại tệ trong nước để nuôi con ăn học ở nước ngoài. Tuy nhiên, con số này có lẽ không nhỏ khi thống kê chỉ từ bốn đại sứ quán Mỹ, Anh, Úc, và Singapore cho biết đã có hàng chục ngàn sinh viên người Việt Nam đang theo học ở các trường học từ cấp tiểu học đến đại học ở các nước này. Vì thế, lượng USD tiền mặt gửi ra nước ngoài chỉ cho riêng hoạt động này có lẽ là không nhỏ.

Nhưng đây chỉ là một phần trong bức tranh người Việt Nam giữ tài sản bằng USD, thay vì tiền đồng. Người ta mua USD để cho con đi học nước ngoài, thanh toán ôtô nhập khẩu, trả tiền cho chiếc iPod, hay đơn thuần là cất trong tủ… Những hoạt động này làm nền kinh tế Việt Nam bị đôla hoá rất cao, ít nhất so với các quốc gia khác trong khu vực. Kinh tế gia trưởng của ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Martin Rama giải thích về hiện tượng này: “Người dân và doanh nghiệp không yên tâm về tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD. Có rất nhiều người đang găm giữ USD vì họ cho rằng găm giữ USD là biện pháp bảo vệ tài sản cho họ”.

Người Việt thực sự đang giữ bao nhiêu USD? Câu hỏi này gây tò mò cho chuyên gia kinh tế cao cấp Lê Đăng Doanh. Ông Doanh kể lại, ông đã cùng ngồi phỏng đoán với phó chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia Lê Xuân Nghĩa về con số này dựa trên nhiều yếu tố như dự trữ ngoại hối, vay nợ của Chính phủ, kiều hối, FDI, xuất khẩu, lượng ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng… đã công bố cuối năm ngoái. “Chúng tôi giật mình khi thấy sai số là 9,7 tỉ USD. Con số này không thấy xuất hiện trong tài khoản ngân hàng. Tức là nó nằm trong túi người dân. Điều này cho thấy chúng ta không thiếu ngoại tệ, nếu huy động được số tiền này”, ông Doanh nói.

Chuyên gia kinh tế trưởng của ngân hàng Thế giới tại khu vực Đông Á – Thái Bình Dương Vikram Nehru: “Thâm hụt tài khoản đối ngoại là đáng quan ngại đối với Việt Nam. Theo tôi, một cách giải quyết vấn đề này là tăng lãi suất. Nó sẽ mang lại hai kết quả. Thứ nhất là làm nguội bớt sức ép lạm phát; thứ hai là có hiệu ứng làm dòng vốn tài chính tạo ra thâm hụt quay trở lại, người dân rời bỏ USD để quay sang tiền đồng, qua đó dự trữ ngoại hối sẽ được bắt đầu tích luỹ lại”.

Đánh giá của ông Doanh gần giống với một báo cáo mới công bố của ngân hàng Thế giới. Báo cáo này lưu ý rằng, có nhiều hạng mục bị sai số một cách không bình thường trong cán cân thanh toán (lên tới 10% GDP). “Người dân Việt Nam đang nắm giữ hàng tỉ USD”, ông Rama giải thích cho hiện tượng này.

Một câu hỏi khác: vậy còn bao nhiêu USD nằm trong tài khoản ngân hàng thương mại? Viện phó viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Võ Trí Thành giải thích thêm, dự trữ ngoại hối hiện có, cộng với khoảng 20 tỉ USD đang gửi trong hệ thống ngân hàng thương mại cho thấy “Việt Nam có hơn 30 tỉ USD”. Ông nói: “Con số này và số USD trong dân cho thấy, nền kinh tế không thiếu USD”.

Nhưng mặt khác, rõ ràng là đang có tình trạng thiếu ngoại tệ cho các giao dịch cần ngoại tệ.

Ông Rama nói tiếp: “Hiện tượng mua bán USD vượt ra ngoài biên độ chính thức trên thị trường tự do cho thấy một số dấu hiệu mất lòng tin vào đồng nội tệ”. Anh Hưng và nhiều người khác đang nắm giữ USD biết rất rõ điều này. Nhưng điều họ không biết là tỷ giá VND/USD luôn có chiều hướng tăng chính vì sự găm giữ đó, và đây là một yếu tố mang tính tàn phá nền kinh tế. Ông Thành ước tính, tỷ giá có thể dao động ở biên độ rất lớn 18.000 – 20.000 VND/USD, mà biên độ nhỏ nhất chỉ có thể có khi người dân từ bỏ găm giữ USD và chuyển qua VND.

Gợi ý này, tuy vậy, là bất khả thi. Ông Rama nói: “Tôi cho rằng, để dòng tiền vào thị trường không có kiểm soát là không thể được. Nếu để mọi người mua USD thì ngân hàng Nhà nước sẽ mất thêm nhiều dự trữ… Đây là áp lực với Chính phủ và Chính phủ hiểu được áp lực đó”.

Để dân tin dùng tiền Việt Nam



Ngày 13.4, giá USD trên thị trường tự do Hà Nội có nơi ở mức 19.020 – 19.060 đồng/USD, gần bằng giá niêm yết của ngân hàng 18.990 – 19.060. Ngay khi tỷ giá thị trường tự do gần tiệm cận với giá niêm yết tại ngân hàng, cụ thể là ngày 10.4, giới đầu tư đã tăng mua khiến cho tỷ giá “nóng” trở lại và tăng nhẹ. Động thái trên của giới đầu tư được các chuyên gia tài chính lý giải là do họ kỳ vọng tỷ giá sẽ tăng lên trong thời gian tới do áp lực của lạm phát và xuất khẩu vẫn giảm mạnh.

Tỷ giá sẽ ổn định ít nhất một, hai tháng

Các mặt hàng điện tử, công nghệ thông tin nhập khẩu không còn hiện tượng niêm yết giá bằng USD tại cửa hàng, nhưng vẫn được niêm yết bằng USD trên website. Ảnh chỉ mang tính minh hoạ. Ảnh: Lê Quang Nhật

Trong khi tỷ giá liên ngân hàng vẫn được ngân hàng Nhà nước (NHNN) cố định ở mức 18.544 đồng/USD thì tỷ giá mua vào/bán ra niêm yết tại các ngân hàng lại có dấu hiệu hạ nhiệt, thấp hơn giá trần (19.100 đồng/USD). Tỷ giá ngoài thị trường tự do cũng hạ nhiệt nhanh chóng và lao dốc rất mạnh, có thời điểm giá mua vào rơi xuống chỉ còn 19.100 đồng/USD, tiệm cận với giá niêm yết tại ngân hàng. Đã lâu lắm rồi người dân và giới đầu cơ ngoại tệ mới được chứng kiến sự chênh lệch với biên độ nhỏ như vậy giữa giá USD trong hệ thống ngân hàng với thị trường chợ đen. Và giá USD đã giảm xuống mức thấp nhất từ đầu năm 2010.

Giải thích hiện tượng này, ông Nguyễn Thanh Hà, giám đốc phân tích kinh tế, công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) nhận định, lý do chính dẫn đến việc giá USD trong hệ thống ngân hàng hạ nhiệt nhanh chóng trong tuần qua xuất phát từ thông tin nguồn vốn FDI giải ngân trong tháng này khá lớn (ước tính lên tới 1 tỉ USD) và nguồn tin nội bộ trong hệ thống ngân hàng về định hướng của NHNN sẽ không phá giá VND từ nay cho tới cuối năm.

“Trên thực tế, trạng thái ngoại hối của các ngân hàng trong ba tháng qua luôn ở trạng thái dương (mua nhiều hơn bán). Lượng USD tồn đọng tại các ngân hàng từ đợt “găm hàng” kỳ vọng tỷ giá lên lần trước cũng còn khá nhiều. Hơn nữa, cầu USD hiện tại cũng không thật sự cao bởi lẽ các doanh nghiệp nhập khẩu trong ba tháng đầu năm nay thay vì mua USD đã quay sang vay USD để dành VND cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn cung liên tục được cải thiện trong khi cầu không thật sự mạnh mẽ đã khiến giá USD đang chịu sức ép giảm giá khá lớn”, ông Hà phân tích.

Tuy nhiên, thị trường ngoại hối vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn. “Nếu xuất khẩu không tăng thì sẽ ảnh hưởng tới tỷ giá ngoại tệ và khi ấy chính sách tỷ giá cần phải linh hoạt, điều chỉnh theo cung cầu thị trường sao cho ổn định. Tuy nhiên, đứng trên góc độ kinh tế vĩ mô, tỷ giá nhiều khả năng sẽ ổn định ở mức thấp như hiện nay ít nhất là trong một đến hai tháng nữa, trước khi chênh lệch lãi suất cho vay giữa VND và USD có sự thay đổi cũng như tình hình nhập siêu cho những dấu hiệu căng thẳng hơn và xuất khẩu chưa có dấu hiệu phục hồi”, tiến sĩ Cao Sỹ Kiêm, phó chủ tịch hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia, nhận định.

Để dân tin tiền đồng

“Muốn triệt để trách nhiệm của doanh nghiệp với quốc gia và người dân không găm giữ ngoại tệ, chúng ta cần phải có quy chế quản lý mới, luật Quản lý ngoại hối mới: người Việt Nam dùng tiền Việt Nam” – tiến sĩ

Cao Sỹ Kiêm,
phó chủ tịch hội đồng Tư vấn
chính sách tiền tệ Quốc gia.

Có hiện tượng khi thấy giá USD ngoài thị trường tự do giảm mạnh giới đầu tư và người dân đã mua vào. Đặc biệt, hiện khá nhiều doanh nghiệp vẫn niêm yết giá bằng ngoại tệ trên website. Dạo qua thị trường bất động sản, máy tính, máy ảnh trên các địa chỉ website của một số doanh nghiệp, sau khi bị cấm niêm yết giá ngoại tệ ở gian hàng, thì họ niêm yết trên trang web. Thực tế này là gì?

Theo tiến sĩ Kiêm, hiện tượng này là do người dân và doanh nghiệp chưa tin vào tiền đồng và chính sách tỷ giá của NHNN.

Còn tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, phó chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính Quốc gia, để chống đôla hoá nền kinh tế, trước hết Việt Nam cần phải ổn định lạm phát trong thời gian dài để xây dựng lại lòng tin của người dân với đồng nội tệ và hệ thống ngân hàng tuyên bố không nhận tiền gửi bằng ngoại tệ nữa.

Có thể Chính phủ tăng dự trữ bắt buộc của ngoại tệ lên thật cao. Như vậy ngân hàng thương mại sẽ dừng huy động USD hoặc giảm lãi suất huy động ngoại tệ tới mức thấp nhất có thể để không còn hấp dẫn với người dân nữa. Khi ấy, nếu ai có ngoại tệ thì sẽ bán đứt cho ngân hàng để tiêu bằng tiền nội tệ và tình trạng đôla hoá sẽ giảm.

Theo tiến sĩ Võ Trí Thành, phó viện trưởng viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, ngay từ năm 1994, NHNN đã ban hành quyết định cấm giao dịch, mua bán ngoại tệ trên thị trường Việt Nam, tuy nhiên, bài học cho thấy biện pháp hành chính không phát huy hiệu quả. Mấu chốt là phải ổn định kinh tế vĩ mô. Nhớ lại hồi đầu năm 2007, khi ấy ít có ai muốn nắm giữ ngoại tệ.

“Hiện nay người dân và giới đầu tư chưa tin vào đồng nội tệ và chính sách của Nhà nước. Chúng ta có nhiều chính sách mâu thuẫn nhau, ví dụ như muốn hạn chế ngoại tệ nhưng lại cho phép người dân gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ, thanh toán bằng ngoại tệ…”, tiến sĩ Thành nói.

Đồng tình với quan điểm trên, tiến sĩ Kiêm cho rằng, thật khó để cấm nhưng có thể đưa ra chính sách, cơ chế. Tỷ giá phải hợp lý, linh hoạt sao cho đối tượng găm giữ ngoại tệ cảm thấy giữ cũng không có lợi.